Quán Thời Gian
Hân hoan đón mừng quý khách đến với Quán Thời Gian!

SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down

SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 10:55 am

Sài Gòn, nay là thành phố Hồ Chí Minh, cái tên nghe rất quen nhưng lắm khi lại còn xa lạ đối với đồng bào cả nước, ngay cả đối với người sinh sống ở Sài Gòn. Thử dạo chơi Sài Gòn qua lịch sử thành hình của nó, ta sẽ hiểu thêm từng bước. Hiểu và thương người và đất Sài Gòn, với tấm lòng rộng rãi, với sự gắn bó máu thịt giữa đồng bào Việt, mặc dầu ở Sài Gòn có nhiều người lai Khơme, lai Trung Hoa, lai Pháp, lai Ấn Độ, hoặc có người mới đến xin hộ khẩu chưa xong.
Thương và quí trọng người Sài Gòn, vì tình người: có thể nói hầu hết những người can đảm đến Sài Gòn từ hồi 300 năm qua đều là kẻ cùng khổ, hoặc người khá giả tương đối, nhưng không thấy tương lai ở quê xứ mình. Họ ra đi tìm chốn “đất lành chim đậu”, nhưng thời gian đã trả lời rằng nếu gặp đất lành mà không đủ kiên nhẫn, cần cù sáng tạo thì chim cũng sống lây lất. Vả lại, khí hậu của Sài Gòn thời xưa đâu như bây giờ. Bãi sông sình lầy, đất thì lắm ao vũng, một năm có đến sáu tháng nước mặn từ biển lấn vào.
Sài Gòn vẫn lạ, lắm người ở Sài Gòn nhưng không hiểu tại sao chợ Bến Thành lại ở trong đất liền, không thành hình tại mé sông mé rạch? Đã gọi chợ Bà Chiểu nhưng cũng quen gọi là Gia Định? Lại còn Chợ Lớn cũ, Chợ Lớn mới. Thêm nhiều chùa mà giới bình dân quen gọi là chùa Chà Và, hoặc chùa Ông, chùa Bà, thêm những đình làng vẫn tồn tại và còn tấp nập ở nội thành.
Dịp lễ Nô en của đạo Thiên Chúa, người theo đạo Phật, đạo thờ cúng ông bà lại thức đêm, rong chơi, háo hức. Lại có thói quen ăn uống bên lề đường, dưới bóng cây me cổ thụ, xem như là phong cách sang trọng. Báo hằng ngày, báo tuần, bán khá chạy, mỗi gia đình mua ba bốn tờ khác nhau. Hát cải lương được lắm người ưa thích, cũng như bóng đá, đua xe đạp. Gần như phường nào cũng có tỷ lệ khá cao Việt kiều trở về thăm nhà. Thích áo quần lạ, ham xa xỉ phẩm, không biết tiết kiệm tiền bạc.
Hỏi vị trí những con đường như Hoàng Diệu, Chu Văn An hoặc Cầu Mật, cầu Chà Và, nhiều người tuy ở Sài Gòn lâu đời nhưng chẳng biết hướng nào mà chỉ dẫn cụ thể .
Lạ hơn nữa, lắm người từ bé tới lớn chưa đặt chân vào chợ Bến Thành, hoặc dạo chơi Thảo Cầm Viên, Nhà Bè. Sài Gòn quá rộng, khu nội thành dài, lắm nơi hơn mười ki-lô-mét. Củ Chi, Cần Giờ vẫn còn là đất lạ đối với khá đông người; biết qua lượng thông tin nhưng chẳng bao giờ đi đến lần nào. Lại còn sắc mặt vui tươi khi xã giao, biểu lộ lòng hiếu khách và dịp Tết đến, ai cũng ước mơ được và quê ăn Tết. Trong khi ấy, có nhiều người sống gần nhu kiểu người Âu, suốt năm quanh quẩn đường Đồng Khởi, đường Nguyễn Huệ. Muôn người muôn vẻ, chẳng ai quan tâm đến kiểu ăn mặc của người đi bên cạnh, giàu hay nghèo thích đổ xô ra đường, lấy đường phố làm nhà. Tiền bạc ở ngoài đường chớ không phải ở trong nhà. Vì vậy, sắm xe để đi tới lui với tốc độ nhanh. Với chiếc xe gắn máy, mỗi ngày ta gặp năm bảy người bạn ở xa cách nhau, trong khi đi xe đạp thì đi viếng đôi ba chỗ là nhiều.
Đường phố đầy người và xe. Ngoài số người rong chơi, vung tiền ra cửa sổ, lắm người dầm mưa, dãi nắng để tìm dịch vụ hoặc giải quyết những dịch vụ, từ việc bán chiếc xe đạp đến việc mua ngôi nhà giùm cho người bạn hoặc lo giấy tờ về nhà đất, thuế vụ, tiêu thụ mặt hàng ứ đọng, tìm thêm công việc đem lợi tức nhiều hơn.

avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 10:56 am

Sài Gòn là đất mới.

Thủ đô nước ta dời từ động Hoa Lư chật hẹp trên đất Thăng Long; tức Hà Nội ngày nay từ năm 1010 (đời nhà Lý), trong khi Sài Gòn trở thành lãnh thổ Việt Nam chánh thức trước năm 1700, sau Hà Nội đến 700 năm.
Huế là phủ Chúa đời nhà Nguyễn, khi đang mở nước trở thành kinh đô sau năm 1800.
Trong buổi đầu, Sài Gòn chỉ có dân ở chung quanh Đồn Dinh (phỏng định nay ở góc đường Cách Mạng Tháng Tám - Nguyễn Trãi); quân sĩ lo an ninh, dân ở chung quanh làm ruộng, rẫy; hàng tiêu dùng phải đưa từ miền Trung vào.
Ta nhớ khi Bá Đa Lộc qua Pháp cầu viện, thay mặt Nguyễn Ánh, để đánh Tây Sơn, trong hiệp ước vua nước Pháp chỉ đòi Đà Nẵng và Côn Đảo mà thôi. Sài Gòn bấy giờ chưa đáng chú ý. Phải đợi đến năm 1830, cách đây hơn 150 năm, dưới đời Minh Mạng, khi tả quân Lê Văn Duyệt làm tổng trấn ở xứ Gia Định (gồm toàn Nam bộ), cảng Sài Gòn mới tấp nập, xứng danh là hải cảng, tàu thuyền liên lạc ra Huế, Hà Nội, Trung Hoa, Phi luật tân. Bài phú Cổ Gia Định mô tả chợ Bến Thành với tàu từ Tây phương, với thủy thủ người Ma ni (Philíppin), lại còn tàu của người Anh ghé bến.
Bấy giờ, chợ Bến Thành ở trước mặt thành Phiên An, trung tâm của thành này phỏng định vị trí nền nhà thờ Đức Bà. Bến cảng ở bờ sông Sài Gòn trước mặt thành, khoảng tượng Trần Hưng Đạo ngày nay chạy dài đến cầu Nguyễn Tất Thành.
Nhưng tiếc thay, với chánh sách “Đóng cửa rút cầu” của Minh Mạng, sau khi Lê Văn Duyệt mất, Minh Mạng trù dập tay chân của họ Lê, vì vậy xảy ra cuộc khởi loạn của Lê Văn Khôi (1833), sinh hoạt của Bến Thành không còn vì quân sĩ triều đình Huế kéo vào, đàn áp.
Suốt non ba năm ròng rã, ngay trung tâm Sài Gòn có hàng vạn binh sĩ bao vây, ngày như đêm, hò hét dưới hầm hố. Bên trong vài ngàn quân sĩ của Lê Văn Khôi đã chống cự, rồi chịu thất thủ. Cả nội thành là chiến trường, quân sĩ đôi bên đông đúc hơn dân số tại Sài Gòn lúc bấy giờ. Sau đó, thành này bị san bằng, Minh Mạng cho xây thành khác, nhỏ hơn, chính thực dân Pháp đã đánh thành này, gọi thành Gia Định vào năm 1859.
Bấy giờ, thực dân Pháp muốn tìm điểm tựa cho tàu dừng lại để tiểu tu, đồng thời lập kho dự trữ hàng hóa ở Đà Nẵng, gần Huế, trên đường mà thực dânTây phương từ châu Âu qua mua bán với Trung Hoa và Nhật Bản, hai nước sau này rất đông dân, lại có thổ sản như tơ lụa.
Đánh Đà Nẵng thì dễ, nhưng quân sĩ Pháp lưu trú tại đó gặp nhiều khó khăn về tiếp tế. Thực dân đã nghĩ đến chuyện đánh chiếm kinh đô Huế, nhưng quân sĩ Pháp đi bộ, vượt đèo Hải Vân là chuyện quá gian nan, nguy hiểm. Nhìn trên bản đồ, chúng nghĩ đến việc tạm rút lui ở phía Nam, chờ cơ hội đánh ra Huế rồi ra Bắc Bộ. Sài Gòn lúc ấy chưa nhiều lúa gạo, lại bị ảnh hưởng ba năm giết chóc qua vụ Lê Văn Khôi, thương gia trong nước và nước ngoài không đến làm ăn nên trở thành tiêu điều, nhà cửa hư nát trong khi quan lại lo vơ vét, triều đình Huế không chi viện món gì cả. Năm 1859 người Pháp mô tả Sài Gòn như một vùng quê, với vài mươi căn nhà ngói. Pháp chiếm Sài Gòn nhằm tạo chỗ dừng chân, đánh khá dễ vì chiến thuyền từ Vũng Tàu vào Sài Gòn không khó như trường hợp vượt đèo vượt núi. Chiến thuyền Pháp cặp bến Sài Gòn pháo kích ngay để gây hoang mang. Chúng đổ bộ ngay đầu đường Tôn Đức Thắng ở mé sông, kéo lên đụng đường Nguyễn Du bây giờ là giao chiến trước cửa thành Gia Định (thành mới xây, sau vụ Lê Văn Khôi). Chiếm xong, chúng san bằng, đề phòng quân ta tái chiếm. Sau đó, khi ổn định, chúng lần hồi nhận ra Sài Gòn là điểm quan trọng có thể là một hải cảng, giao lưu thuận lợi với các nước Đông Nam châu Á và châu Âu. Lần hồi, chúng phát triển ngành hàng hải, tàu buôn trang bị máy chạy với sức hơi nước sôi, thêm vài cánh buồm to tiếp sức gió.
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 11:00 am

Sông trước mặt chợ Sài Gòn tên thật là rạch Bến Nghé. Gọi rạch vì đường thủy này là chi nhánh của sông Đồng Nai, tiếp giáp ở điểm gọi Nhà Bè với sự tích nửa hư nửa thực đáng nhắc lại cho vui.
Hồi xưa lúc mới khẩn hoang, người từ miền Trung vào, nhanh chóng, không qua đèo qua núi, vì họ đã có truyền thống đi biển. Vào Vũng Tàu, gọi như thế vì đây là cái vịnh nhỏ, làm nơi trú ẩn cho tàu (hiểu là ghe thuyền) khi giông tố, lại dễ tìm nước ngọt, tìm củi nấu cơm.
Vào sông Đồng Nai, đi ngược dòng, đến ngã ba Nhà Bè, ai muốn đi lên phía Biên Hòa để làm vườn, hoặc làm chút ít ruộng thì đi thẳng; còn ai muốn đi Gia Định (hiểu là Sài Gòn và phía đồng bằng sông Cửu Long) thì quẹo vào sông Sài Gòn. Có câu ca dao "Nhà Bè nước chảy chia hai, Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về". Chỗ ngã ba gần biển này, hơn 6 tháng chịu ảnh hưởng nước mặn, hai bên bờ chưa nhà cửa, toàn là dừa nước, bần, cây mấm, cây vẹt của rừng nước mặn. Sông Đồng Nai khá to ở điểm này, vì là ngã ba khá rộng nên có sóng gió triền miên. Ông Võ Hữu Hoằng là nhà phú hộ, dạo trước giữ một thủ (tức là đồn trạm kiểm soát), dĩ nhiên thời phong kiến sinh lắm điều tiêu cực, nhờ tham nhũng công khai, nên trở thành khá giả. Tương truyền về già, ông lo ngại cho kiếp sau của mình, bèn mướn pháp sư làm phép cho ông được "đi thiếp", mê man hồn lìa khỏi xác. Đến âm phủ là bọn quỉ sứ đầu trâu mặt ngựa đưa ông vào xem đia ngực chợt thấy một cái gông thật tỏ, đề sẵn tên Võ Hữu Hoằng! Ông hoảng sợ, quỉ sứ bảo rằng sau khi chết, cái gông này dành để tra vào cổ ông. Ông khóc lóc, vị quan nọ bảo muốn được nhẹ tội thì khi trở về dương gian phải làm việc phước thiện. Khi dậy, ông mua tre rừng khá nhiều, kết lại chiếc bè to, nổi trên mặt nước. Bè này có mái lợp che nắng che mưa, lại bố trí từng phòng cho khách vãng lai. Chiếc bè ấy đậu tại vị trí ngã ba sông ngày nay. Vốn hào hiệp, ông dự trữ gạo, nước ngọt, cá mắm, phân phát cho những ai túng thiếu, không trả tiền.
Ghe thuyền qua lại tạm ghé vào, lần hồi nhiều người mua bán gom lại kề bên, lượng người từ miền Trung vào Nam lập nghiệp khá đông. Khu vực ngã ba trở thành kiểu chợ mới trên sông, gọi chợ Nhà Bè (nay ta cũng lấy tên truyền thống ấy đặt tên huyện). Nhà cửa đông đúc, lần hồi chợ dời lên trên bờ. Chuyện được thêu dệt về sau, nhưng ta khẳng định một điều: Bấy giờ, đường thủy khó khăn, người đến Gia Định - Đồng Nai còn nghèo, lòng từ thiện của ông Võ Hữu Hoằng thật đáng biểu dương. Vì kính nể, chẳng ai dám vô phép gọi đúng tên, Hoăng nói trại ra Huồng. Về già, ông lập ngôi chùa, thờ Phật, nay ở thành phố Biên Hòa hãy còn chùa Thủ Huồng.
Về cấu tạo đất đai, Sài Gòn rất đa dạng. Phía trên Bạch Đằng ngày nay, sát mé sông, ăn lên một đỗi đến Thị Nghè rồi lên phía Biên Hòa, phía bắc, là đất phù sa cổ, đất sét và đất cát quyện nhau, khá cứng rắn, như đất rừng miền Đông. Ta gặp môi trường thích hợp cho cây cỏ vùng cao, nào cây dầu, cây sao, đã thử trồng cây cao su, lẻ tẻ làm cây cảnh. Vùng này, đào giếng gặp mạch nước tốt.
Nhưng đi về phía tây, là vùng Chợ Lớn, sát mé rạch Vàm Bến Nghé (tên con rạch nhỏ đổ ra sông Sài Gòn), đất ẩm thấp, sình lầy chịu ảnh hưởng nước lớn nước ròng, ngập bờ, quả là đất phù sa mới, chịu ảnh hưởng nước mặn, giống như phù sa của mũi Cà mau. Bãi bùn đầy những loại thảo mộc gần như vô dụng, như ô rô, cóc kèn. Cá đối, cua biển nay đã vắng bóng vì dòng nước bị ô nhiễm với rác rến, hóa chất phế thải. Rạch vàm Bến Nghé (còn được gọi rạch Cầu Ông Lãnh, vì có chợ Cầu Ông Lãnh) ăn vào phía Chợ Lớn, đổi tên là kinh Tàu Hủ (xưa là rạch, được nạo vét lại).
Có thể nói: Biển ở gần kề Sài Gòn, ngăn cách bởi vùng đất sình lầy, chưa định hình. Ngày trước, huê lợi lớn nơi đây là cây cói (lát) để dệt chiếu. Bằng cớ: chợ Xóm Chiếu đã thành hình, trước đời Tự Đức nay còn tên đất.
Vì là rừng sác (rừng hoang với các giống cây nước mặn ven biển) nên ở làng Tân Kiểng (nay là quận 5, sát đường Trần Hưng Đạo), cách đây hơn 200 năm, năm 1771, vào dịp Tết, dân làng đang vui chơi lúc rảnh rang lại xảy ra chuyện cọp vào chợ. Từ phía rừng sác cọp xuất hiện thình lình. Xưa nay, cọp sợ đám dông, nhưng đây là con cọp quá hung hăng; ai nấy hoảng chạy, cấp báo với quân sĩ. Suốt ba ngày, cọp vẫn còn tới lui, bấy giờ vùng Tân Kiểng gồm đa số dân sống với ruộng rẫy, nhà cửa thưa thớt, gọi là chợ, nhưng kiểu chợ làng, với đường mòn và những bờ tre gai. Bấy giờ, có nhà sư không rõ pháp danh, sử ghi là ông tăng Ân, (ông tăng tên Ân) cùng đi với đồ đệ là Trí Năng đến nơi xin đánh Ông tăng Ân dùng roi (gọi là côn) tiến vào bờ tre mà khiêu khích. Cọp nhảy ra, sau một hiệp giao chiến, cọp lui vào bụi tre, thủ thế. Ông tăng Ân xốc tới, cọp trở ra cùng thi đấu, nhưng bất ngờ, khi lui bước, ông tăng Ân té xuống mương cạn. Cọp nhảy tới, quơ nanh vuốt, ông ngã xuống, máu me linh láng. Đồ đệ là Trí Năng nhảy tới đánh trúng đầu cọp. Cọp chết tại chỗ, nhưng ông tăng Ân vì bị thương nặng, sau đó cũng mất. Người địa phương thương tiếc, đem chôn cất ông tại chỗ, xây tháp lưu niệm. Rất tiếc, nay tháp ấy không còn.
Cũng vào buổi mở nước, ở khu vục xa hơn, cũng thuộc về đất Gia Định, hãy còn chuyện ông tăng Ngộ. Thuở bé ông sùng đạo Phật, lấy lý tưởng từ bi bác ái làm phương châm để giúp người đi khai phá vùng đất mới. Hồi còn bé, ông tăng Ngộ đòi đi tu, cha không cho. Cha bảo:
Tu hành là cực khó, sẵn sàng đối phó với mọi khó khăn, của cải không còn ý nghĩa. Muốn chứng tỏ đức tánh ấy, con phải cầm cục lửa than cháy đỏ này trong tay cho cha xem thử.
Bấy giờ người cha đang hút thuốc, bên cạnh là bếp lửa. Lập tức, ông tăng Ngộ cầm cục than đỏ rực trong lòng bàn tay mà sắc mặt không thay đổi, cầm khá lâu. Người cha đành cho con đi tu. Gặp vị chân tu ở chùa Vinh Quang, ông tăng Ngộ giữ gìn kỷ luật, mỗi ngày siêng làm việc, chỉ ăn một bữa cơm trưa mà thôi. Nhiều năm sau, ông nổi danh về đạo đức, người trong vùng ai cũng mến phục. Rừng rậm còn nhiều, cọp cứ lại vãng, ít ai dám đến làng mà khai khẩn ruộng đất. Ông nghĩ ra chuyện đắp con đường từ đông sang tây, vượt qua vùng sình lầy, rậm rạp. Tự tay ông làm việc, dân làng khâm phục nhưng chẳng ai dám noi gương vì con cọp dữ mãi tới lui. Nhiều người mua bán tập họp qua lại, cọp vẫn xuất hiện. Hôm ấy, lúc ông đang đắp con lộ, cọp xuất hiện. Ông ung dung làm việc, cọp đến gần, đứng nhìn ông rồi cọp cúi đầu, đi mất dạng, mặc dầu trong tay ông không có ngọn roi để tự vệ, chỉ là cây cuốc bình thường. Dân làng mừng rỡ, tiếp sức với ông, nhờ vậy ruộng rẫy hai bên đường càng thâu hoạch bông trái.
Con rạch vàm Bến Nghé từ sông Sài Gòn chảy về phía đồng bằng nối liền đến rạch Bến Lức. Đời Gia Long, cách đây non hai trăm năm, đã bố trí một nhà kho lớn, ở nơi gọi Cầu Kho, nay hãy còn tên đất với khu chợ ở quận Nhất. Kho là kho lúa thóc, do nông dân vùng đồng bằng gom về gần Sài Gòn, chờ đưa ra kinh đô Huế để nộp thuế bằng sản vật. Xa một đỗi, ta đến Chợ Quán, nơi tập trung năm ba quán nhỏ, ghe thuyền qua lại nghỉ ngơi, khách uống trà Huế, loại trà tươi, lá vò nát, nấu trong nồi to. Uống bát trà nóng, ăn cái bánh có thể tạm dằn cơn đói.
Rời Chợ Quán một đỗi, về phía Chợ Lớn, ta gặp khu vực khá trù phú. Bám vào mé rạch là những căn nhà sàn, ghe thuyền tấp nập, trên bờ là đường mòn, sình lầy, vì đất thấp. Dân ở đây lấy bờ rạch là đường sá, đường thủy thay cho đường bộ. Rải rác,vài con đường mòn ăn từ mé rạch lên vùng đất cạn (nay đường Nguyễn Trãi). Mươi ngôi nhà lợp ngói hiện ra: khu vực người Hoa với mái ngói của chùa miếu. Ghe thuyền từ Lục tỉnh, tức là các tỉnh phía đồng bằng chở đến nào lúa gạo, cá khô, dừa khô, cau khô, cất vào những nhà kho để tạm tồn trữ, chờ phân phối cho các chợ ở miền Đông Nam Bộ, hoặc đưa ra miền Trung. Đặc biệt về lúa gạo thì xuất khẩu đến miền Nam Trung Hoa. Khu vực này được dân gian gọi Chợ Lớn, theo nghĩa: chợ này lớn hơn những chợ lân cận. Tên đất Chợ Lớn mãi bảo lưu đến ngày nay. Chợ này thành hình vào năm 1780 trễ nải hơn chợ cù lao Phố ở Biên Hòa.
Ngược dòng lịch sử, ta thấy lúc Sài Gòn còn là đồn trại của binh sĩ thì phía sông Đồng Nai (mà đầu nguồn nay là cơ ngơi của thủy điện Trị An) người Hoa từ Quảng Đông không chịu hàng phục người Mãn Thanh đã kéo xuống “hải ngoại” phía nam để ẩn lánh, chờ dịp khôi phục nhà Minh đã bị Mãn Thanh đánh bại. Họ đến với chiến thuyền và binh sĩ, ghé vào Huế, xin tị nạn. Chúa Hiền Vương cho phép họ đến Biên Hoà ngày nay để lập thương cảng. Họ thu mua lâm sản quí giá như ngà voi, hồ tiêu, gân nai (món ăn quí nhất), thịt khô, lông chim công, chim trĩ... đưa về Quảng Đông. Khi trở lại Biên Hòa, họ chở theo tô chén, lu hũ, thuốc Đông Y thêm tượng đá (để trang trí đền chùa), lại còn nến, nhang, cam quít. Bến cảng này mãi đến nay còn gọi cù lao Phố, một đảo nhỏ giữa sông Đồng Nai, đối diện với thành phố Biên Hoà. Gọi Phố vì lần hồi khá giả, họ xây nhà ngói, xẻ đường lộ, lát đá xanh, mở hiệu ăn uống, huyên náo với những đội ca nhạc. Người Hoa gọi chốn này là Đại Phố (Chợ Lớn). Năm 1777, quân Tây Sơn kéo vào Nam để truy nã chúa Nguyễn, cuộc chiến xảy tại đây, vì vậy chợ cù lao Phố bị tàn phá. Thương gia người Hoa kéo nhau xuống vị trí Chợ Lớn ngày nay, gần kề Sài Gòn. Tiếp tục tồn trữ hàng hóa để bán trong nội địa và xuất khẩu. Chợ vẫn giữ tên cũ, như hồi còn ở Biên Hòa. Thật ra, việc đổi vùng này trùng hợp với tiềm năng kinh tế. Ngà voi, sừng tê (con tê giác), gân nai, lông chim công (dùng trang trí nhà cửa hoặc mão của vua quan...) là sản phẩm thiên nhiên, lần hồi cạn kiệt. Sau khi chuyển về Chợ Lớn, gần Sài Gòn, việc mua bán thêm tấp nập. Việc khẩn hoang ở đồng bằng sông Cửu Long đã đem lại kết quả với quá nhiều lúa gạo.
Từ Chợ Lớn mới thành lập này, đường thủy về phía đồng bằng sông Cửu Long lần hồi hoàn chỉnh, trước khi người Pháp đến; vào thế kỷ thứ 18 và 19 ông cha ta đã chú ý đến an ninh quốc phòng. Đã đào con kinh Bảo Định nối sông Tiền qua sông Vàm Cỏ Tây, rồi đào kinh Thủ Thừa nối Vàm Cỏ Tây qua vàm Cỏ Đông, vào rạch Bến Lức. Bến Lức là nơi hội tụ ghe thuyền chuẩn bị vào Chợ Lớn, nơi có kho dự trữ lúa gạo chờ đưa ra chợ Bến Thành (cảng Sài Gòn). Ghe tải từ phía đồng bằng lên đây là tài sản lớn đối với từng người chủ nhưng đến nơi đô hội thì trở thành quá bé nhỏ, lạc lõng. Chủ phải tăm rửa sạch sẽ, mặc áo tươm tất để dọ dẫm tìm hiểu tin tức về giá lúa gạo đang lên hay xuống, ăn uống thỏa thuê, việc chèo chống càng phải cẩn thận vì sông rạch như trở thành chật hẹp. Nhất là chuyện trở về phía đồng bằng, cần tu bổ nào buồm, nào quai chèo, cột chèo cho an toàn. Chợ Đệm (nay là nơi có nhà máy xay xát lớn Satakê) được gọi như thế vì bán nhiều đệm; bấy giờ vải quá đắt, dùng đệm chằm với lá buôn hoặc với bàng, để làm buồm.
Khốn thay! Bao giờ cũng như bây giờ, nơi đông đảo tấp nập vẫn là đầy phức tạp. Nét đặc trưng của sông rạch Nam Bộ là có bọn xấu chuyên nghề trộm cắp giữa ban ngày, gọi là bối. Chúng tụ tập ở Ba Cụm, gần chợ Đệm. Ba Cụm, hiểu theo người địa phương là nơi có ba cội cây đa to, tàng lá xum xuê, mọc kề bên nhau. Bọn ăn trộm trên sông hội tụ về đây, ngang nhiên hành nghề.
Ngồi trên chiếc xuồng để tạm nghỉ, biết rằng bọn bối “lấy của giữa ban ngày” đang trình rập, anh nọ luôn cảnh giác. Cái thùng bằng cây đựng quần áo bao giờ cũng đặt sát lưng để anh dựa vào. Rủi bị trộm, nhất định anh sẽ mất thăng băng, ngã ngửa ra phía sau: Ghe xuồng qua lại khá đông, anh quan sát, vui mắt. Đột nhiên, phía trước cỏ người réo to:
- Cai chú kia thô tục quá! Hơn hai mươi tuổi mà con cởi quần ra, đúng phóng uế, không biết xấu hổ.
- Người khác nói:
-Chắc là thằng điên, thằng khùng. Có vợ có con rồi mà ở truồng nữa chợ như con nít.
Anh nọ vì tò mò nên nghiêng người về phía trước để xem mặt mày kẻ vi phạm thuần phong mỹ tục. Vừa lúc ấy tên bối nhấc lén cái rương bằng cây sau lưng anh. Chừng giựt mình, không thấy ai cởi truồng phía trước, anh ngồi trở lại tư thế cũ, thấy hẫng hụt sau lưng bèn kêu lên:
- Thùng đựng quần áo của tôi đâu rồi?
Tên bối đã chuyền cái thùng ấy cho đồng bạn đem đi nơi khác lại cười giòn:
- Thì bị... bối rồi. Nó ở trước mặt anh mà anh không biết.
Một thí dụ khác: Ông lão nọ chở một thuyền đầy vịt đem lên Chợ Lớn, mỗi cặp vịt được trói chân lại chất đống. Cô gái nọ bơi xuồng đến, ngỏ ý muốn mua. Ông lão dừng lại. Cô ta trả giá, hai bên đồng ý. Cô đem hai cặp vịt qua xuồng mình, rồi dùng cây dầm mà bơi khá nhanh. Ông lão gọi:
- Trả tiền cho tôi chớ!
- Sớm muộn gì tôi cũng trả tiền mà.
Xuồng của cô ta chen vào đám đông.
Ông lão quát to:
- Cô làm nghề... bối hả?
Cô gái cho xuồng cặp vào bờ, chỉ vào ngực:
- Nghề... bối là nghề cha truyền con nối của tôi!
Nói xong, cô lên bờ, hai tay xách hai cặp vịt, bước chậm rãi. Ông lão đứng dậy, kêu trời. Chẳng lẽ ông bỏ xuồng mà rượt theo. Nãy giờ có năm ba tên bối rình rập, thừa lúc ông nhìn theo cô gái, chúng lấy cắp vài chục cặp vịt rồi lên bờ đối diện, mất dạng. Những chuyện tương tự còn nhiều.
Về sau, với thuyền được cơ giới hóa, di chuyển nhanh hơn, nạn bối giảm bớt. Lần hồi, dân cư ngày đông đúc, bờ rạch chợ Đệm chẳng còn hoang vắng như trăm năm về trước.
Sông Cửu Long có thượng nguồn ở bên nước Cam Bốt, vùng Nam Bộ giáp ranh nhau, không thác không gành nên từ xa xưa đã trao đổi hàng hóa. Giới thương lái từ Cam Bốt đưa xuống Sài Gòn Chợ Lớn theo sông Cửu Long nào cá khô của Biển Hồ, đậu xanh, đậu phộng (lạc), hồ tiêu, thêm những bè cá tươi sống đặt hai bên ghe. Nam Bộ đã đưa lên nước bạn nào dụng cụ nông nghiệp, trầu rang, cau khô, trái cây. Bên Cam Bốt thời trước, tiêu thụ nhiều trầu cau. Phía đồng bằng, nhiều xóm chuyên trồng trầu, để bảo quản lâu dài từng lá trầu được sấy khô, bán theo sức nặng từng cân. Người ở đồng bằng khi khá giả rủ nhau lên Sài Gòn để mua sắm và giải trí, trở thành số khách vãng lai thường trực đáng kể.
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 11:01 am

Về tên đất sài Gòn, nhiều giả thiết đặt ra, thiếu tính thuyết phục. Hoặc là tiếng Khơ me, tiếng Hoa, lần hồi nói trại ra. Hoặc là rừng cây gòn. Vùng đất cao phía Chợ Lớn ăn đến vùng Phú Lâm ngày nay, thời xưa nhiều cây gòn mọc như rừng nguyên sinh. Sài là củi là cây. Ông Trịnh Hoài Đức, từng làm tri huyện ở huyện Tân Bình xưa, từ hơn 200 năm về trước đã giải thích như thế. Huyện Tân Bình bấy giờ gồm quận 1, quận 3, Phú Nhuận... Họ Trịnh là nhà trí thức khoa bảng, là sử gia đáng tin cậy.
Sài Gòn xưa là tên của vùng Chợ Lớn, tức quận 5, quận 6, quận 8 bây giờ. Phía Sài Gòn ngày nay, xưa gọi Bến Nghé. Lại rắc rối nếu ta muốn giải thích. Bến là bến sông, dễ hiểu, vì đã có con sông khá rộng, đổ ra sông Đồng Nai ở Nhà Bè. Nghé là con trâu con, Bến nước mà bầy trâu con đến tắm, uống nước, với cậu bé dắt trâu. Nhưng gần mé sông bấy giờ dường như chẳng làm ruộng (bến Bạch Đằng, chỗ khách sạn Nổi ngày nay đất khá cao). Lắm người cho rằng nghé là tiếng con cá sấu kêu rống. Lối giải thích này dễ chấp nhận; thời xưa, bờ sông hoang vắng, cá sấu từ biển Cần Giờ (vùng Cần Giờ nay hãy còn cá sấu) tới lui phía mé sông, ban đêm kêu lên, tiếng cá sấu kêu nghe giống như tiếng trâu con gọi mẹ. Lần hồi, vì tàu thuyền tới lui, gây náo động, cá sấu rút lui về phía rừng ngập mặn, gần biển.
Người Pháp đến, nhìn khu vực Bến Nghé (Sài Gòn ngày nay) và Chợ Lớn (xưa gọi Sài Gòn) như là một thực thể gắn liền. Vì chú trọng đến khu vực thương mại, chúng gọi Bến Nghé xưa là Sài Gòn, bỏ tên truyền thống Bến Nghé. Dưới mắt thực dân, khu vực này chỉ đáng lưu ý tới những kho lúa gạo phía Chợ Lớn (xưa gọi Sài Gòn). Về mặt hành chính, chúng áp đặt sự thay đổi ấy, và sông Bến Nghé đổi tên là sông Sài Gòn, như nay ta quen dùng trên bản đồ.
Khu vực Sài Gòn, từ khi Pháp đến, trở thành quan trọng, gồm ba trung tâm nhập một, gần kề nhau:
- Hải cảng, với chợ Bến Thành xưa.
- Đầu não của cơ quan hành chính và quân sự với thành Gia Định. Đầu não của vùng Bến Nghé xưa là huyện Tân Bình, đóng ở ngang hông Bưu Điện thành phố ngày nay, đường Nguyễn Du, vị trí trường sư phạm.
- Khu vực bến bãi, trung chuyển hàng hóa và tiểu thủ công nghệ ở Chợ Lớn, là giang cảng cho phía đồng bằng.
Về giao lưu với nước ngoài, Sài Gòn trở thành điểm lí tưởng ở Đông Nam Á, chỉ kém Singapo, Hương Cảng mà thôi. Nhìn trong phạm vi vùng, Sài Gòn dựa vào sự phồn vinh vững chắc của đồng bằng sông Cửu Long với lúa gạo sản xuất dư giả, thêm thủy hải sản dồi dào, lại liên lạc dễ dàng với nước Cam bốt. Thêm hậu phương lớn là miền Đông Nam Bộ và sức mạnh tổng hợp của cả nước, thời nhà Nguyễn, đầu thế kỷ thứ 19.
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 11:03 am

Có thể nói vùng đất cao của Sài Gòn khởi đầu từ bên này cầu Nguyễn Tất Thành, đối diện nhà lưu niệm Nhà Rồng. Sát mé sông, ngay chỗ cột cờ Thủ Ngữ, xưa là nơi bắt đầu của một chợ nhỏ, gọi Chợ Sỏi, đất cứng, với đá ong, là phù sa cổ lâu ngày biến chất. Khu vực cao này chạy dài qua Bình Thạnh, Phú Nhuận, lên Hóc Môn, Gò Vấp. Ta không lấy làm lạ khi thấy hồi đầu thế kỷ 20 này, phía ngã tư Phú Nhuận (đường Nguyễn Kiệm) Pháp lập một vườn cao su nhằm kinh doanh, dùng sức bò để cày xới với nhân công sử dụng cuốc, dao để làm cỏ.
Giữa Phú Nhuận và Tân Bình, xưa là khu Vườn Xoài phong cảnh thanh lịch làm phần mộ cho Bá Đa Lộc, nhà truyền giáo Pháp từng giúp Nguyễn Ánh lên ngôi. Lại còn khu vực đất cao là sân bay tân Sơn Nhất (thành lập năm 1930 rồi phát triển thêm). Gò Vấp, Hóc Môn có đất cao, dùng nước giếng, mùa hạn, giếng sâu hơn 10 mét. Ông cha ta ngày xưa thích ở nơi không úng lụt vào mùa mưa, để sản xuất hoa màu như rau cải, bầu, mướp. Từ thời mở nước đến giờ, tuy không nói ra, ông cha ta đã nghĩ đến vành đai xanh. So với mé sông quận I, ở đây độ cao khoảng 10 mét, như một vùng cao nguyên thấp. Trồng rau cải và hoa. Ngày Tết, bán xuống Sài Gòn hoa mai vàng, hoa cúc. Ngày mồng 1 ngày rằm bán hoa vạn thọ, màu vàng hực để cúng ông bà, cúng thần Tài cho gia đình, đặc biệt là với tiểu thương. Thêm thuốc lá, nổi danh ở Gò vấp nay còn tên đất Xóm Thuốc. Hóc Môn, về hướng bắc Sài Gòn, từ xưa gọi 18 thôn Vườn Trầu.
Trầu là dây leo cần được chăm sóc từng ngày về tiêu tưới, tưới xong, gốc phải ráo, tránh úng. Trầu leo cao, theo cây nọc, lý tưởng nhất là cây cau, vừa đuợc huê lợi trầu, vừa thu hoạch trái cau để ăn với trầu. Trên diện tích nhỏ, mà đạt huê lợi cao, dây trầu có thể leo lên những nọc kề bên nhau, cắm thẳng lên trời vì vậy không che khuất nắng những nọc bên cạnh. Vài lá trầu tốt có thể so sánh với một tiền kẽm ngày xưa. "Miếng trầu là đầu câu chuyện", cũng như khắp nước ta, từ Bắc chí Nam, thói quen ăn trầu phố biến ngaytrong giới trai gái vừa lớn lên. Gặp nhau, chàng trai mời cô gái ăn trầu, kiểu xã giao bắt buộc. Vùng Sài Gòn tiêu thụ mỗi ngày một khối lượng trầu cau đáng kể - trầu xanh dành cho giới bình dân, trầu vàng dành cho người khá giả Đồng bào vùng 18 thôn Vườn Trầu, từ thế kỷ thứ 18 sống chuyên canh với trầu cau. Cái khó vẫn là chuyên chở đến Sài Gòn, Chợ Lớn để tiêu thụ tại chỗ và phân phối cho vùng lân cận, nơi chịu ảnh hưởng nước mặn thêm đất phèn nên trồng trầu rất khó Thay vào đó, đồng bào nuôi vịt, làm ruộng, đào ao bắt cá, đem bán lấy tiền, mua lại trầu cau vôi thuốc. Hừng sáng, phụ nữ vùng Hóc Môn (18 thôn Vườn Trầu) rủ nhau gồng gánh, theo đường bộ, hơn 15 ki-lô mét, đi từng đội đoàn. Người đi đầu, người đi sau chót và người đi giữa phải cầm đuốc, dầu là đêm có trăng. Ngọn lửa của đuốc khiến thú dữ lánh xa. Thú dữ đây là cọp, hai bên đường còn rậm rạp, bấy giờ có câu ví “Dữ như cọp Vườn Trầu.” Cọp tới lui quanh quẩn gần xóm, rình cơ hội để giết chó, heo hoặc con người mà ăn thịt. Đã từng ăn thua với con người, cọp học được nhiều kinh nghiệm. Dân gánh trầu vừa đi vừa nói chuyện ồn ào, để áp đảo lũ cọp lắm khi vì đói nên hóa ra liều lĩnh. Gặp những con cọp hung hăng, phụ nữ hè nhau dùng đòn gánh mà đánh, như thứ vũ khí rất hữu hiệu.
Đòn gánh làm bằng tre già, vừa dẻo, vừa cứng. Đến những năm sau 1890, khoảng trăm năm trước đây thôi, chính phủ Pháp còn ra giải thưởng cho những ai săn được cọp đem nộp cho nhà nước. Ta có tư liệu xác nhận:
- Vùng cầu An Hạ trong 3 tháng, cọp giết 12 người.
- Vùng Hóc Môn, trong vài tuần lễ liên tục, cọp giết 4 người. Và ở Thủ Dầu Một, trong vài tháng, cọp còn tới lui giết 8 người. Bấy giờ, làng xóm khá đông, ở mỗi làng, nhà nước phát súng cỡ nhỏ cho hương chức làng mà cọp vẫn không sợ. Khi Pháp đến, khoảng 1870, dân làng vẫn thường hay còn tổ chức "ví cọp", với kỹ thuật gọi là "ví khại". Khại là tấm vạt kiểu vạt lót giường ngủ, cao hơn đầu người, vật tư là những miếng cau chẻ ra từ thân cây già, nhờ vậy mà rắn chắc, không gãy bất ngờ. Khi nghe báo động, người trong xóm tập họp lại chừng bốn mươi hoặc năm mươi tấm khại như thế, đôi ba người điều khiển một tấm, dựng đứng. Bắt đầu khoanh vùng to, những tấm vạt từ từ ráp nối lại, cọp từ khu vực rộng bị gom vào cái vòng tròn ngày càng nhỏ hơn. Cọp gào thét, toan phá tấm khại, nhưng con người có thể tiến tới, an toàn đứng sau tấm khại, với nhiều người cầm gươm giáo hộ tống.
Vòng rào gồm những miếng khại siết nhỏ lại, nơi ráp mối dùng những sợi mây to ràng rít lại. Những tay thiện xạ dùng cung tên bắn vào, hoặc dùng giáo mhà đâm, cọp chạy quanh bên trong rào, tìm đường tẩu thoát, tuyệt vọng, để rồi bị giết với nhiều vết thương. Kiểu săn cọp này kéo dài suốt buổi sáng, hoặc trưa. Lại còn kiểu làm bẫy hầm. Đào hầm khá sâu bên dưới cắm chông tre thật nhọn, trên miệng hầm đặt tấm vỉ tre, khá nhẹ và mỏng manh, có rải đát, thêm lớp cỏ tươi. Bên miệng hầm, buộc con heo to, hoặc con trâu nhỏ. Cọp tham ăn, chạy tới, lọt xuống hầm, bị chông đâm ngược lên. Nói chung, đồng bào ta chỉ ra tay giết cọp trong trường hợp bất khả kháng. Chẳng ai muốn gây sự với “chúa sơn lâm”, rủi như không xong, cọp sẽ trả thù, mất thời giờ canh chừng. Và khi chết rồi... hồn của cọp vẫn có thể gây tai họa kiểu khác như thiên tai, dịch tả, hỏa hoạn. Đó là lời đồn đại mê tín.
Trước khi thực dân Phắp đến, tỉnh Gia Định khá rộng, ăn trọn vùng Tây Ninh, Long An, Cần Đước, cả vùng Gò Công. Bên kia sông Sài Gòn, vùng Thủ Thiêm cũng như ngã ba Nhà Bè thuộc về tỉnh Biên Hòa. Ngoài khu vực sông Sài Gòn (quận Nhất ngày nay) theo rạch Bến Nghé, rải rác vài tụ điểm như Cầu Kho, Chợ Quán vùng sát bên là đồng ruộng.
Đường thủy thì có rạch Bến Nghé ăn vào Chợ Lớn với đường bộ theo bờ rạch. Phía Bắc, con đường nay là Nguyễn Trãi ăn vô Chợ Lớn. Trung tâm của Chợ lớn là khu vực ngày nay là đườngTriệu Quang Phục. Kỳ dư, phía Bà Chiểu (quận Bình Thạnh), phía Phú Nhuận bên kia rạch Thị Nghè cũng như vùng Phú Lâm là ruộng rẫy, thêm dân chài lưới.
Tiểu thủ công nghiệp đã rộn rịp, nhưng mãi lực của người dân quá kém, hàng tiêu dùng phần lớn dành cho người khá giả như quan lại, điền chủ nhỏ. Giữa Sài Gòn và Chợ Lớn là khoảng đất trống hơn 4 ki- lô mét.
Pháp đánh thành Gia Định, thành nhỏ, mặt tiền ở ngay góc đường Nguyễn Du và Tôn Đức Thắng ngày nay. Giặc cho chiến thuyền đậu theo rạch Thị Nghè, chặn phía sau thành. Thành bị hạ, vì hỏa lực của địch khá mạnh, với tầm bắn xa. Đáng chú ý là sau khi hạ thành này, chúng lập tức rút lui, xuống chiến thuyền, thả neo lênh đênh giữa sông Sài Gòn, đóng đồn nhỏ phía cầu Tân Thuận khá xa. Dè phòng ta tái chiếm, chúng đốt kho lúa gạo trong thành, đập phá các mảng tường. Kho gạo bị đốt cháy, lửa ngún chậm, cả tháng sau còn bốc khói. Vì vậy ngày nay ta chẳng còn thấy dấu ấn nào của thành Gia Định xưa. Giặc chờ viện binh hùng hậu hơn đang bận rộn ở chiến trường bên Trung Hoa để chia phần với thực dân Anh. Nước Trung hoa đã là thị trường lớn, đông dân số. Ấy là vào đầu năm 1859.
Lợi dụng lúc giặc còn yếu thế triều đình cho tăng viện, ban đầu là Tôn Thất Hiệp, kế đến là Nguyễn Tri Phương đã bố trí một chiến tuyến với qui mô lớn, ta gọi đại đồn Phú Thọ, Pháp gọi lũy Chí Hòa (đọc theo giọng Pháp rồi âm lại là Kỳ Hoa), bao gồm làng Chí Hòa xưa (phía đường Cách Mạng tháng Tám, bệnh viện Thống Nhất) chạy xuống đường 3 tháng 2, qua Phú Thọ, (với đường Lý Thường Kiệt làm trung tâm). Nhiều dãy chiến lũy nhỏ ăn đến gần Cây Mai, Chợ Lớn. Hành dinh của tướng Nguyễn Tri Phương đặt ở khoảng gần chợ Bà Quẹo gọi đồn Trung; bên hữu có đồn Hữu Tiền, Hữu Hậu; bên tả có Tả Tiền, Tả Hậu.
Ta thử hình dung cụ thể, đây là một doanh trại chứa hơn 10 ngàn quân, với lương thực dự trữ. Những vách đất bao chung quanh cao 2 mét 50, dày 3 mét, hai bên vách kè cây to, chính giữa đổ đất.
Bề dày những vách đất này cộng lại dài đến 12 ki-lô-mét nhìn khái quát thấy bố trí như hình tam giác, đỉnh là Bà Quẹo, đáy là đường 3 tháng 2 ngày nay. Với chu vi 12 ki-lô-mét như thế, ta thấy lực lượng dân công thời xưa được huy động khá đông, từ Hóc Môn, Bà Điểm. Dân công phía Cần Giuộc, Gò Công, do Trương Định đưa lên. Trong khoảng non hai năm trời, quân Pháp và quân Việt Nam lo bố trí căn cứ, gườm nhau, tranh thủ thời giờ, thỉnh thoảng xảy ra những trận đánh du kích lẻ tẻ. Những hình vẽ của người Pháp thời 1860 - 1861, cho thấy lũy đất cao chạy dài giăng giăng, trong và ngoài lũy có nhiều cây cổ thụ, rải rác nhiều nấm mộ. Nhiều chòi canh bố trí trên cao, ban ngày treo cờ, bạn đêm có lẽ đốt lửa làm hiệu báo động. Trong khi ấy, giặc Pháp đến với khối lượng nhỏ, tạm trú tại Trường Thi ngày xưa. Chúng chiếm các chùa miếu, khá kiên cố, để đóng đồn. Dãy đồn này dọc theo đường Võ Văn Tần, Nguyễn Trãi bây giờ, vào Chợ Lớn, đóng thêm đồn ở gò đất Cây Mai, nơi các thi sĩ thời xưa tụ họp lại để ngâm thơ, bên gốc những cây mai trắng, khá to, chung quanh là đồng ruộng, với ao sen. Vài cuộc đụng độ xảy ra, quan trọng nhất là vụ tên đại úy Pháp Bạc-bê bị nghĩa quân phục kích tại góc ngày nay là Võ Văn Tần và Cách Mạng Tháng Tám. Hắn bi giết tại trận.
Trong dân gian, mãi đến nay còn đồn đại nhiều sự việc nửa hư nửa thực:
-Nghĩa quân từ các tỉnh đến chi viện đã chở theo nhiều trái mù u, loại trái tròn và cứng, cây mù u mọc hoang trong vườn. Đoán chừng con đường hành quân của giặc, ta đến khiêu khích; rồi tháo chạy. Giặc rượt theo, vì mang giày da nặng và cứng nên vấp khi đạp vào những quả mù u hình tròn giặc trợt té, thừa cơ, ta ào tới giết.
-Giặc lợi dụng cái máu ham tiền bạc của những người dân vô ý thức, trong đó có dân quân chưa huấn luyện, từ các tỉnh đến. Khi giao chiến với ta, giặc ném những đồng bạc nhỏ, hoặc là những vật bằng chì, hình tròn vào gốc tre, bụi rậm. Vì ham tiền một số người quên phận sự, cứ chui vào bụi rậm mà tìm kiếm, đem về xài. Chuyện này khó tin.
Thình thoảng, giặc cho vài tên lính Pháp kèm theo số Việt gian đến gần chiến luỹ của ta. Bên ngoài chiến lũy là hầm hố, ngoài hầm có vài lớp cây tầm vông vạt nhọn, cắm đưa mũi nhọn ra ngoài.
Giặc thử bắc thang cao trên chông, lấy ván lót qua chiến hào để trèo vách lũy khá cao, đắp đất. Quân sĩ ta đối phó, theo lời truyền khẩu, bằng cách nấu dầu sôi, từ trên lũy đổ xuống, giặc đang leo thang bị phỏng, té nhào. Hoặc ta dùng cây tre, cưa ra từng khúc ngắn, chừa một mắt (đốt) khoét lỗ tương đối to. Ta dùng nước muối, trộn với ớt băm nhỏ, rồi tra thêm cái cán dài, đầu kia thì lấy vỏ cây, lá cây bít lại như hình tròn kiểu ống thụt của lò rèn. Đổ nước muối ớt vào, ta thụt mạnh, nước bắn ra ngay mũi, ngay mặt của địch, khiến chúng sặc nước, ngạt thở, mắt như mù lòa.
Trong khi ấy, phía Sài Gòn, giặc nghĩ ra cách làm kinh tế: cho tàu buôn nước ngoài vào cảng Sài Gòn để bán ra lúa gạo, heo, đậu bắp, bò còn sống (bò thịt) mà chúng thâu mua với giả rẻ.
Vài tháng sau, nhờ viện binh từ Trung Hoa trở về; giặc mở cuộc tấn công đại đồn Phú Thọ (gọi lũy Chí Hòa), với lực lượng hùng hậu.
Nhiều cỗ trọng pháo được kẻo đến, do lừa và ngựa giống to con, mua từ Ai Cập. Như vậy cần số dân phu khá đông để mua thức ăn cho ngựa, mang cỏ ra tận mặt trận. Việc di chuyển của địch khá chậm chạp, dò dẫm, sợ bị phục kích. Địch gom quân vào Cây Mai, Chợ Lớn. Thay vì đánh lên từ Sài Gòn, chúng đi theo hình vòng cung, về phía Cầu Tre, rồi bọc xuống hành dinh của tướng Nguyễn Tri Phương, dọc đường, chúng nghỉ đêm lại vị trí nay là Gò Mây, gần Bàu Cát. Hôm sau, chúng tấn công thẳng vào hành dinh.
Thời bấy giờ, máy ảnh còn thô sơ cồng kềnh, ký giả theo mặt trận quen sử dụng ngòi bút sắt để vẽ lại, rất khéo. Ta còn thấy những tranh vẽ lính Pháp, khi dàn trận. Chúng bố trí theo đội hình xưa bên châu Âu. Lính gom lại từng hàng, đơn vị nhỏ xếp lại theo hình vuông. . . Kiểu bố trí hình vuông này thuận lợi, vì có thể day mặt bốn phía, khi ta chưa đến gần thì chúng nổ súng trước. Giặc nã trọng pháo, kiểu đặt trên bánh xe, do ngựa kéo. Trọng pháo của chúng có sức tàn phá tầm xa. Trong khi ấy, kiểu súng thần công của triều đình ta quá xưa, chỉ thể bắn tầm gần, vả lại, về kỹ thuật, bắn 10 phát thì đạt hiệu quả có đôi ba phát. Biết quân sĩ ta phần lớn dùng gươm giáo nên địch cứ lánh xa. Binh sĩ ta tràn tới thì chúng bắn tỉa, từ xa. Nếu để ta đến gần, đánh cận chiến, kiểu xáp lá cà thì gươm giáo có hiệu quả hơn, chúng sẽ thua khi dùng sức người mà đánh với người Việt cảm tử, giàu lòng yêu nước.
Hành dinh của ta mất vào tay địch.
Ký sự của người Pháp bấy giờ mô tả:
Nguyễn Tri Phương là vị tướng can đảm, ông ngồi trên nóc thành khá cao, có hai cây lọng che. Ngồi bình tĩnh để quan sát chiến trận đang diễn biến. Người Pháp cứ nhắm ngay mục tiêu hai cây lọng ấy để nã trọng pháo khiến ông bị thương nặng.
Làm sao Pháp hiểu được lối đánh giặc của người Á đông thời trước. Bình tĩnh ngồi để hứng đạn là thái độ “cố trì”, nhằm động viên quân sĩ: tướng còn đây thì quân sĩ không được chạy. Vài sĩ quan Pháp nhìn nhận: quân sĩ Việt Nam bị thương được tải ra, không nghe ai rên siết, quả thật họ chịu đựng nỗi đau đớn theo kiểu Á đông. Người nước ngoài đến xâm lược chưa hiểu được truyền thống can đảm của dân Việt khi đền nợ nước. Hy sinh là sự thường.
Giặc mở cảng Sài Gòn, đánh vùng Mỹ Tho, rồi sáu năm sau chiếm nốt ba tỉnh phía tây Nam bộ. Thực dân hy vọng lấy Nam bộ làm hậu cứ để đánh ra bắc, rồi ra trung chiếm kinh đô Huế. Trước đó chúng đã đi ngược dòng sông Tiền chiến Cam Bốt.
Hàng hóa, đặc biệt là lúa gạo xuất khẩu ngày càng nhiều, dân miền quê đưa luá gạo lêan cảng Sài Gòn mua lại hàng tiêu dùng, nhiều mặt hàng mới lạ. Giới thương gia người Hoa thừa cơ hội làm trung gian, họ mua lúa đem về Chợ Lớn xay xát lại. Họ tổ chức người đến tận thôn quê nắm đầu mối theo hệ thống mà ta quen so sánh với chân con rít (rết). Mua lúa vào, bán ra hàng tiêu dùng. Đời sống người dân như được thư thả hơn về mặt vật chất. Sài Gòn - Chợ Lớn thêm đông đúc dân cư. Lên Sài Gòn làm mướn tuy cực nhưng dễ bề ăn uống, kiếm tiền nhanh từng ngày, đâu như khi ở quê nhà mỗi năm chỉ thu hoạch một lần khi gặt hái. Vác lúa gạo cho các nhà kho (gọi là chành) phía Chợ Lớn, làm phu bốc xếp cho cảng Sài Gòn là việc cực nhọc, nhưng dễ tìm việc làm, bấy giờ đang thiếu nhân công.
Tóm lại, do hoàn cảnh lịch sử người Sài Gòn đã chạm trán với Tây phương, làm phu bốc xếp cho cảng Sài Gòn ngay từ khi thành Chí Hòa chưa mất, và khi cảng mở rộng cửa với Tây phương. Nghĩa là đã nếm mùi thực dân 25 năm trước Hà Nội và Huế, ngay khi ông Nguyễn Tri Phương còn sống và vua Tự Đức cũng còn sống. Hai mươi lăm năm, một thế hệ người. Họ ăn bánh mì, uống rượu lạt trước, so với cả nước. Rượu lạt mà ông Đồ Chiểu gọi chính là rượu chát (rượu vang) vì so với rượu nếp thì tửu độ kém hơn. Làm phu bốc xếp nhưng vẫn đi chân đất, đầu còn mang cái búi to, miệng ăn trầu. Thay đổi phong cách sống là chuyện cần có thời gian. Người Pháp đã áp đặt bộ máy cai trị ngay từ khi chưa chiếm ba tỉnh miền Tây. Lúc đầu các quan cai trị là sĩ quan Hải quân, trú đóng trên vùng đất cao, nay là vị trí của trường Sư phạm (góc Nguyễn Du – Hai Bà Trưng). Đứng đầu có viên Đô đốc Hải quân, trụ sở xây cất với vật tư phần lớn là gỗ, ván mua từ Singapo. Miền Đông sẵn nhiều gỗ quí, nhưng chưa có an ninh. Bấy giờ Singapo đã là nhượng địa của người Anh, công nhân bên ấy phần lớn là người Hoa đã rành việc thi công xây cất. Trong trụ sở treo ảnh Hoàng đế, Nữ hoàng và Thái tử. Bấy giờ bên Pháp đã trở lại chế độ quân chủ. Trụ sở này được duy trì mãi đến hơn mười năm sau mới dời qua vị trí Hội trường Thống nhất ngày nay. Dinh thự lúc ấy nhỏ hơn với sân rộng, gần đúng với vị trí của Sở Văn hóa Thông tin ngày nay. Bố trí cái tháp cao hơn 15 mét, gắn chiếc đồng hồ to làm chuẩn cho các công sở. Đúng 12 giờ trưa, tàu chiến đậu trên sông Sài Gòn bắn một phát đại bác. Cảng Sài Gòn xưa của ta (chợ Bến Thành mé sông) được người Pháp lập tức dời qua khu riêng bên kia rạch Vàm Bến Nghé, trụ sở đầu tiên là cơ quan hãng Nhà Rồng. Mặt bằng chợ Bến Thành cũ dành làm nơi cho người Pháp dạo chơi, hóng mát. Cột cờ Thủ Ngữ (nay hãy còn) nhằm treo cờ làm tín hiệu cho tàu buôn phía Nhà Bè biết tình hình tại cảng đề phòng trường hợp tàu đi vào cảng bị cản trở nếu trong này có nhiều tàu khác đang quay đầu, trở lái.
Năm 1863, khi chưa chiếm ba tỉnh miền Tây, đã cải tạo mặt bằng của xưởng đóng tàu thời Tự Đức vốn nhỏ bé trở thành công xưởng hiện đại của hải quân với ụ to nhằm tu bổ những tàu cỡ lớn. Kế bên xưởng hải quân là cơ ngơi dành cho lính hải quân. Công xưởng hải quân bấy giờ gọi là xưởng Ba Son, chẳng ai giải thích được tại sao đặt ra cáu tên ngộ nghĩnh này. Công nhân của cơ xưởng gồm người Pháp với người Việt vào tập sự. Từng lớp thợ thuyền người Việt đã ra đời.
Đường nay là Đồng Khởi thành hình trước khi người Pháp đến, tu chỉnh kại trở thành khu phố thanh lịch nhất. Giới quân sự người Pháp thích trồng cây me để tạo bóng mát và gợi nét độc đáo của vùng nhiệt đới.
Đường Đồng Khởi vạch ra sẵn từ trước trên mặt bằng cao ráo. Lính thủy Pháp ra sức tu bổ nâng cấp, nay ta thấy quá nhỏ hẹp. Nhưng bấy giờ là to lớn. Lúc người Pháp chiếm nước ta bên châu Âu xe ôtô còn trong vòng thử nghiệm như trò chơi khôi hài. Xe ôtô chạy với nồi nước sôi, sức nước làm xoay hai bánh ở đầu xe. Muốn chạy cần một người ngồi lom khom lo điều chỉnh sức hơi nước để xe chạy nhanh hoặc hãm bớt tốc lực. Thêm người tài xế điều khiển hướng đi, quẹo trái, quẹo mặt. Những cuộc chạy thử nghiệm ấy gây tò mò cho giới trẻ. Lắm khi xe phóng vào hàng rào hai bên đường, hoặc cán người đi bộ. Người lái và người thợ máy chưa làm chủ được tốc lực. Thậm chí nhiều người còn đề nghị cấm cái trò chơi với ôtô. Họ cho rằng ôtô ngẫm lại rất nguy hiểm, không chở chuyên được một vài hành khách , lại gây ra tai nạn. Xe đạp lúc bấy giờ ở bên Đức còn trong vòng thử nghiệm, chỉ là kiểu xe hai bánh, bánh trước lớn, bánh sau nhỏ, người ngồi trên yên thòng hai chân xuống đất, chòi đạp mặt đường để lấy trớn, chưa nghĩ ra việc sáng chế dây xích và bàn đạp. Vì vậy đường Đồng Khởi lần hồi trở thành nhỏ bé khi xe ôtô xuất hiện non nửa thế kỷ sau.. phương tiện di chuyển sang trọng nhất lúc bấy giờ là xe song mã dành cho cá nhân hoặc bạn bè đôi ba người. Xe chạy chậm, bề ngang tương đối nhỏ, vả lại lượng xe ngựa ít nên đường Đồng Khởi bấy giờ xem như rộng rãi.
Người Pháp thích môn giải trí, theo thời trang bên Pháp là đua ngựa, đánh cá cược đoán con nào về nhất nhì, kiểu cờ bạc hợp pháp. Nhà nước cho phép kiểu cờ bạc này, với lý do là tuyển chọn giống ngựa nào chạy nhanh hơn. Ngựa dùng vào việc quốc phòng, vì lính cỡi ngựa di chuyển nhanh (kỵ binh). Ngay khi chưa chiến ba tỉnh miền tây Nam bộ, ở Sài Gòn đã mở trường đua ngựa, chạy theo đường vạch sẵn hình bầu dục trên mặt bằng khá rộng. Phía tây bắc của Sài Gòn sẵn cánh đồng nhiều mồ mả, dạng nghĩa địa công cộng. Người Pháp bèn trưng dụng. Vị trí này ở ngay cơ ngơi Bộ Tư lệnh thành phố ngày nay (năm 19323 dời về phía tây, gọi trường đua Phú Thọ.)
Năm 1864 trường đua ngựa khai mạc, thô sơ, không có vòng rào, dân chúng hiếu kỳ kéo đến xem chuyện lạ từ trước chưa ai thấy. Bên Pháp thời ấy xem đua ngựa, đánh cá cược là kiểu giải trí sang trọng. Bọn công chức, sĩ quan đến với xe song mã,hoặc cỡi ngựa. Báo chí thời ấy mô tả ó vài ông “Quan Việt” theo Pháp nằm võng có lính khiêng, theo sau là tôi tớ mang trầu cau, điếu bình thuốc lào. Người Việt bình dân ngồi ở xa – chẳng được đến gần các quan, trên những nấm mồ vô chủ - vì chủ đã tản cư khi giặc chiếm đất. Mở đầu là cuộc đua xe bò, kiểu xe bò chở hàng hóa, xe nào đến mức trước thì được thưởng. Kế đến là đua ngựa “bản địa”. Như ta biết giống ngựa phổ biến ở nước ta ngày xưa nhỏ bé, so với ngựa Tây phương. Pháp dàn cảnh cho những chú nài mặc áo dài cổ truyền, đội khăn xếp thi nhau quất roi cho ngựa chạy nhanh, trông bôi bác. Giặc muốn chứng tỏ ưu thế vì ngựa đua của chúng là giống to con gấp bội.
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 11:04 am

Tòa nhà ngói đầu tiên vách tường với vẻ bề thế lớn có lầu của Sài Gòn xây ngay đầu đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tranh vẽ lúc bấy giờ cho thấy bên nhà còn cây dừa, cây cau. Mười năm sau Pháp mới đánh thành Hà Nội. Năm sau hoàn thành trụ sở công ty hàng hải quen gọi Nhà Rồng vì trên nóc gắn hai con rồng chầu mặt trăng, nhằm gợi phong cảnh Á Đông! Cũng năm 1864 tổ chức xong đường dây điện tín từ Vũng Tàu vào Sài Gòn, nhằm báo trước các thuyền buôn sắp vào cảng. Con đường Hai Bà Trưng, Lý Tự Trọng cũng được nâng cấp. Nhưng con đường huyết mạch của SàiGòn xưa, vẫn là đường mà nay là Nguyễn Thị Minh Khai. Thuở xưa đường này chia đôi thành Phiên An của Sài Gòn, thời Lê Văn Duyệt. Một đầu đường ăn vào Chợ Lớn, đến Mỹ Tho, gần trùng lặp với quốc lộ I ngày nay trên giồng đất cao. Đầu kia nối vào đường Thiên Lý. Gọi Thiên Lý vì quá dài, ra Huế rồi đến Hà Nội. Đường ngày xưa nhỏ bé, dành riêng cho phu trạm đưa công văn chạy ngựa, hoặc cho các quan nằm võng (kiệu) với người phu thay nhau khiêng, đổi người phu khi đến trạm khác. Đường Thiên Lý, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai ăn đến rạch Thị Nghè, qua cầu, đến Bình Quới (nay khu du lịch) lên Biên Hòa. Vị trí Thảo cầm viên ngày nay đã một thời sôi động được người Pháp tận dụng mặt bằng làm hội chợ triển lãm kinh tế cách nay non 130 năm.
Bấy giờ ba tỉnh miền tây còn là khu vực do triều đình Huế kiểm soát, do Phan Thanh Giản đứng đầu. Bên Pháp đang nổi lên dư luận phản đối chiến tranh, đoadn chừng thuộc địa Nam kỳ là nơi không xứng đáng để cho nước Pháp chịu hao binh tổn tướng nơi xứ lạ quê người. Ngân sách của Pháp không dư để tài trợ dài hạn cho cuộc xâm lăng, còn lâu mới đem về lợi tức cụ thể. Nhưng cánh thực dân phản đối lại, khẳng định tương lai của Nam Kỳ đầy hứa hẹn, giàu tiềm năng về lúa gạo, đậu bắp. Chúng chưa thấy nguồn lợi về hải sản, cây cao su. Mặc khác, cuộc triển lãm này nhằm đánh vào tâm lý giới quan lại và dân quê Việt Nam chưa hiểu công nghiệp là gì.
Mặt bằng chiếm phía sau nhà bảo tàng lịch sử trong Thảo Cầm Viên ngày nay, nhìn ra bờ rạch Thị Nghè. Cửa vào là đường Nguyễn Thị Minh Khai, bên trong có dãy nhà lợp ngói, thêm ngôi nhà không vách, làm nơi trưng bày. Ngày nay, mô tả lại thì thấy thô sơ, nhưng cách đây non 130 năm thì quả là biến cố lớn. Bấy giờ công nghiệp bên châu Âu đã phát triển so với xứ lạc hậu như Việt Nam, nhưng còn thô sơ, cụ thể là chưa có ô-tô, xe đạp, nói chi đến điện thoại, máy bay! Dân chúng đổ xô về hội chợ, đa số đi bộ, những con đường chính yếu của Sài Gòn còn trải đá đỏ (đá ong), rải rác ổ gà, bên đường còn cây cau, cây dừa, nhà lá thì nhiều (đường nay là Hai Bà Trưng, Nguyễn Đình Chiều, Tôn Đức Thắng, Nguyên Bình Khiêm...). Vênh váo nhất là mấy chú lính người Việt vừa được thực dân tuyển mộ, mặc đồng phục vải kaki (vải cứng, màu vàng), đội kiểu nón hình nón lá nhưng bọc vải kaki, trên đỉnh có mũi nhọn bằng đồng. Người khá giả mặc áo the, khăn đen, tay cắp cây dù (ô) kiểu mới nhập. Vài người Pháp vừa qua Sài Giòn mặc y phục vải kaki màu trắng, đội kiểu nón “chống nắng” bây giờ hãy còn nhưng cải tiến lại. Bấy giờ, vành nón to hơn, che lấp phía sau gáy. Người Âu rất sợ ánh nắng xứ nhiệt đới, rủi nắng buổi xế chiều đập vào gáy thì có thể ngất xỉu lập tức. Màu trắng đứng về khoa học, đủ khả năng hất tạt hơi nóng, màu đen thì hút hơi nóng. Chân người Âu luôn mang giày và tất (vớ), đề phòng kiến, rắn rít và hơi ẩm của đất, ngừa đá sỏi bén nhọn khi xảy ra tai nạn, tạm gọi là kiểu “bảo hộ chống khí hậu nhiệt đới!” Họ cỡi ngựa, phương tiện cá thể dễ di chuyển khá sang trọng như ngày nay ta có xe du lịch, hoặc xe gắn máy hạng sang. Ngựa đeo nhiều lục lạc, chiếc lớn chiếc nhỏ, khua vang. Các quan người Việt theo Pháp vẫn chưa quen với Âu phục, nằm hoặc ngồi trên võng, có phu khiêng hai đầu, đi chân đất. Lại còn thứ xe kiếng, bốn bánh, với ngựa kéo khá ổn định. Qua cửa kiếng, người đi đường có thể thấy những bà đầm, vợ các quan người Pháp. Thời trang bấy giờ dành cho phụ nữ quí phái người Âu là khi ra đường ưa đội kiểu nón đan bằng rơm lúa mì, dắt đôi ba cái lông chim khá to.
Dãy nhà ngói dành trưng bày sản phẩm. Chính giữa gian hàng to ấy, trưng huy hiệu nước Pháp. Đường vào hàng này được trang hoàng, hai bên cắm cờ tam sắc của Pháp. Thổ sản của Nam Kỳ trưng bày hối hả với khối lượng ít cho từng loại, xin ghi lại sơ qua:
- 24 loại gạo ngon, được đánh giá cao trên thị trường, từ Long An và Gò Công đưa đến.
- Tơ lụa dệt từ Biên Hòa.
- Vùng Bà Rịa (nay huyện Long Đất) gởi đến những nông sản làm mẫu như bắp đỏ, bắp trắng, mía đường, đậu xanh.
- Vùng Thủ Dầu Một (Sông Bé) gởi những bàn ghế cẩn xà cừ, đồ tiện bằng ngà để trang trí, đồ trang trí bằng sừng. Tất cả mặt hàng đều ghi chú với chữ Hán, chữ Pháp, thêm giá từng đơn vị.
Gian hàng còn trưng bày những sản phẩm thủ công của Pháp: đồ trang trí bằng đồng, thủy tinh.
Lán trại lợp lá dành giới thiệu ngựa, bò, trâu, dê, gà, vịt, bồ câu, rùa. Bấy giờ đang mùa nắng, giữa sân trưng bày vài kiểu máy xay xát, máy lọc đường, máy ép dầu. Động cơ nổ ầm ầm gây kinh ngạc cho người Việt lúc bấy giờ.
Tham dự buổi khai mạc triển làm còn vài nhân vật như quan kinh lược của ba tỉnh miền Tây Nam Bộ là Phan Thanh Giản, và ông hoàng từ Cam bốt đến. Riêng về phía dân chúng đến xem họ thán phục khoa học kỹ thuật Tây phương, mặt khác họ giựt mình vì Nam Bộ có tiềm năng sản xuất đa dạng.
Bấy lâu vì thiếu phương tiện lưu thông và thông tin nên người trong vùng chưa hiểu rõ giá trị trên thị trường nước ngoài.
Người Pháp còn mang dụng ý chính trị: Buổi triển lãm ấy được khai mạc đúng vào ngày mà hồi 7 năm về trước chiến thuyền Pháp và lính hải quân đánh chiếm thanh Gia Định!
Âm mưu xâm chiếm ba tỉnh phía tây còn lại của Nam Kỳ vẫn còn đó.Ba năm sau, phe chủ chiến đã thắng, viên trung tướng hải quân đã từng đánh Sài Gòn khi về Pháp lần hồi được đề bạt làm bộ trưởng Bộ hải quân và thuộc địa. Ông ta ra lịnh cho hải quân ở Sài Gòn đánh Vĩnh Long, năm 1867.
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 11:06 am

Người Pháp đặt cơ sở để chiếm cứ lâu dài cả nước ta, lấy Sài Gòn làm bàn đạp. Vì vậy họ lo ưu tiên về công tác mà nay gọi là “hạ tầng cơ sở”. Con đường bộ nối Sài Gòn vào Chợ Lớn quan trọng nhất thời xưa vẫn là đường nay gọi Nguyên Trãi. Nối từ Gò Vấp (vòng đai xanh) xuống Sài Gòn là Lê Quang Định. Ngày nay, ta có thể nhìn hình dáng mà phỏng đoán:
- Đường nào còn vài đoạn cong queo là đường xưa. Vì đi bộ và dùng xe bò, đồng bào ta không cần thiết kế những con đường ngay thẳng để tiết kiệm sức khỏe của người hoặc của ngựa, bò. Cần tránh những nơi quá cao, cứ đi vòng quanh những giồng đất. Trên đường Nguyễn Trãi, góc Tôn Thất Tùng (nhà thờ Huyện Sĩ) hãy còn khúc quanh, bên giồng đất cao thời xưa, nay là nền nhà thờ.
- Đường trồng cây me là đường xưa, do người Pháp khi mới đến mở ra. Về sau, nhiều cây me quá già bị đốn hoặc giông bão làm trốc gốc, trồng cây khác thay thế. Đã có cuộc tranh cãi giữa người Pháp: cây me trông xinh đẹp nhưng tàng lá quá rậm. Dứt con mưa to rồi mà vài mươi phút sau, nước mưa đọng trên lá vẫn còn rơi xuống, làm ướt áo người qua kẻ lại. Đồng bào gọi đó là “mưa lá me”. Tàng lá cây me là nơi ẩn náu của muỗi, người ở tầng lầu 1 hoặc 2 mà trước cửa có thân hoặc ngọn cây me che khuất thì trong phòng rất ẩm thấp, thiếu ánh nắng.
Trước năm 1900, dinh thống đốc Nam Kỳ (nay Bảo tàng cách mạng, đường Lý Tự Trọng), dinh thự Bưu Điện, nhà thờ Đức Bà, dinh toàn quyền Đông Dương (hội trường Thống Nhất, trước đó là cơ ngơi cũ), tòa án (nay hãy còn, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa), Cầu Đường (góc Lê Lợi, Nam Kỳ Khởi Nghĩa) đã hoàn thành. Thêm khám lớn Sài Gòn và nhà tù Côn Đảo. Tội phạm chính trị, những người chống đối ách đô hộ của Pháp có thể bị đày qua đảo Bòn-bon (La Réunion Đông châu Phi) hoặc tận miền trung châu Mỹ (Guyane) những nơi đó là thuộc địa xưa của Pháp. Hoặc đưa qua Pháp, đến cảng Tu lông để làm lao công khổ sai. Cảng này ở miền nam nước Pháp, bên bờ Địa Trung đại, có xưởng đóng tàu của hải quân.
Tạo mặt bằng ổn định cho Sài Gòn là khó vì sông rạch quá nhiều. Hai trục lộ quan trọng của Sài Gòn, phía nội thành là hai con rạch, lấp lại trở thành đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi, đường Pasteur, đường Hàm Nghi thời xưa cũng là rạch. Đời Tự Đức, dân số ít, ít rác rến nên những kênh rạch ở trung tâm Sài Gòn được sử dụng như là ống cống thoát nước rất tiện lợi. Nền nhà hát lớn cũng là con rạch. Đường Nguyễn Trung Trực thời xưa vẫn là con rạch. Chợ Bến Thành ngày xưa, phía quảng trường là vũng bùn lầy.
Thiết kế vùng Sài Gòn theo kiểu nào?
Vài ý kiến, tuy không phải của đa số người Pháp đã được gợi ra: nên nạo vét những kinh, rạch sẵn có, rồi đào thêm nhiều con kinh khác để Sài Gòn trở thành một kiểu “thành phố nước”. Bên Ý đã có thành phố Venise , với toàn là kinh rạch, bên bờ những “thủy lộ” này cất lên dinh thự, phố xá. Mọi sự di chuyển hàng hóa đều dùng ghe thuyền cặp vào bến nước. Người dân bình thường có thể dạo chơi theo con đường nhỏ ven rạch rồi qua cầu. Nhưng nhiều người thích cho ghe thuyền đạu sát mặt bờ, khi thuyền ghé lại, lập tức bước vào nhà. Dưới kinh rạch bày ra kiểu thuyền độc đáo, mũi và lái nhô lên cao do những anh chèo đò chuyên nghiệp điều khiển chậm rãi. Giờ đây anh chèo đò hò hát cho khách nghe, vì các anh cũng là nghệ nhân, phục vụ ngành du lịch rất ăn khách.
Nếu áp dụng kiểu thiết kế dùng đường thủy thay cho đường bộ thì Sài Gòn được sạch sẽ, rác rến trôi vào Sông Sài Gòn rồi tuôn theo nước ròng ra biển cả, phía Cần Giờ, Vũng Tàu. Nhưng làm như vậy thiếu thực tế vì việc chuyên chở và lưu thông đường bộ gẫm lại nhanh chóng, đỡ tốn kém hơn. Vả lại, người Pháp đến Sài Gòn là để khai thác nguyên liệu, mua bán hàng hoá, mở mang xí nghiệp chớ nào phải vì ý đồ xây dựng một trung tâm du lịch. Cuộc tranh cãi giữa “đường bộ, đường thủy” kéo dài mãi trong vòng 20 năm. Con đường Nguyễn Huệ, nay xứng đáng gọi đại lộ trước khi Pháp đến là kinh Chợ Vải, bán tơ lụa hàng vải, ăn từ đường Lệ Lợi trước ủy ban nhân dân thành phố ngày nay đến sông Sài Gòn. Sau 19 năm tranh cãi, đến năm 1887, toàn thể con kinh này mới lấp xong. Trước đó, lấp từng đoạn vì phía trường ngân hàng (gần bên Tòa án nhân dân quận I) vẫn còn nhà lồng của Chợ Cũ. Chợ Bến Thành Sài Gòn thời Tự Đức bị giải tỏa sau khi Pháp đến, để mé sông dược thoáng mát, phải dời về dây, trong kiểu lán trại cột sắt, lợp ngói, không vách, suốt ngày khách ra vào dập dìu, hàng hóa đưa vào chợ theo đường thủy, như con kinh Chợ Vải này. Nơi đầu đường Ngô Đức Kế ngày nay người Pháp bắc chiếc cầu sắt để qua lại dễ dàng. Người lớn tuổi gọi đây là đường Kinh Lấp...
Trước đó, đã cương quyết lấp đường Hàm Nghi, đường Pa-xtơ. Đường Lê Lợi là con rạch chảy thẳng xuyên qua Thảo Cầm Viên.
Đường vào Chợ Lớn, ta gặp rạch Cầu Kho, rạch Bà Tiệm, Bà Đô... Đến năm 1917, giữa đệ nhất thế chiến mới lấp lại, xây dựng con đường Trần Hưng Đạo, đường Châu Văn Liêm, đường Hải Thượng Lãn ông cũng là con rạch, về sau lấp lại.
Vấn đề nước sạch lần hồi khó giải quyết vì dân số ngày càng đông. Trong mười năm đầu khi Pháp chiếm đóng, ở vùng đất cao Sài Gòn, có mạch nước tốt, đào giếng là gặp. Phía Chợ Lớn, đầu đường Ngô Quyền, khu vực An Điềm (nay còn tên đường) có miệng giếng độc đáo, được sử gọi Tấn Tỉnh. Ngay trong lòng rạch Bến Nghé, đường vào Chợ Lớn, mạch nước ngọt từ đáy rạch tuôn trào lên, xoáy tròn giữa bốn bề nước mặn, hoặc nước lợ. Đồng bào đắp bờ bốn bên, khoanh vùng, múc nước bên trong mà dùng. Mạch này không còn sử dụng từ lâu vì đã có nước máy, hơn nữa, nếu ghe thuyền múc nước đến quanh miệng giếng thì cản trở lưu thông. Lại còn giếng Hộc (có lẽ miệng giếng được gia cố, hình vuông), giếng Tân Hóa (gần bên Cầu Tre). Đầm ao thiên nhiên khá nhiều, như Đầm Sen (nay được nâng cấp), Bàu Sen (ở Chợ Quán nay không còn), Bàu Tròn ở vị trí hồ Kỳ Hòa ngày nay.
Phía trung tâm Sài Gòn, ban đầu người Pháp khoan vài miệng giếng, bên hông nhà thờ Đức Bà, phía khu vực công viên trồng cây sao, lần hồi thấy nhỏ bé, bèn bỏ phế. Nay phía trước Sở ngoại vụ, ta còn gặp dấu ấn xa xưa ấy với cái nắp đúc bằng gang, hình tròn, giếng đã bị đất cát lấp, thiết tưởng nên bảo lưu, làm kỷ niệm, vì xưa hơn trăm năm. Sau đó, đào thêm mạch giếng phía Phú Thọ (đường Lý Thường Kiệt, góc đường 3 tháng 2, phía trường đua) nay còn hoạt động. Lại khoan thêm giếng phía Tân Sơn Nhất, gặp mạch nước dồi dào. Về sau, lại chủ trương lập một đài nước to, và những đài phụ. Đài trung ương ở ngay vị trí hồ Con Rùa, đường Phạm Ngọc Thạch ngày nay, hồ nước đặt trên bốn cái trụ khá cao, xây gạch. Năm 1921, đài này không đủ sức cung ứng, phá bỏ. Dấu ấn còn lại là trụ sở Công ty cấp nước, ở quảng trường. Năm 1870, trong trụ sở bên Nhà Rồng sử dụng vài ngọn đèn điện, do máy phát điện cỡ nhỏ, thử nghiệm buổi đầu. Ngoài đường, riêng ở nội thành, quanh khu vực có cơ quan nhà nước, đặt trụ đèn, với lồng kiếng. Mỗi chiều, một số người được phân công, đùng thang mà bắc lên, mở lồng kiếng, đốt ngọn đèn dầu dừa, đốt xong, đậy lại, sáng thì mở ra đến thổi tắt. Nhà của tư nhân được khuyến khích treo đèn trước mái hiên, đề phòng bọn gian lẻn vào.
Năm 1885, công ty điện chánh thức hoạt động, nhà máy điện đặt tại đường Hai Bà Trưng, ngay phía sau nhà hát lớn. Suốt ngày máy điện gây ồn ào, chạy hơi nước, chụm với than đá từ Hồng-Gay đưa vào, phun khói đen. Mặt bằng này mãi đến nay vẫn còn là của ngành điện, nơi thu tiền khách hàng (chi nhánh điện Nam). Năm 1900, nhà hát lớn khánh thành, để tránh ồn ào, nhà máy điện được dời về Chợ Quán, sát mé rạch.
Đường bộ chưa mở mang vì chưa có ô-tô nên tàu thủy loại to, tầng dưới chở hàng hóa, tầng tên dành cho hành khách hoạt động mạnh. Bấy giờ, vì tàu chạy chưa nhanh (nhưng vẫn là nhanh nhất), hành khách hạng sang được ăn cơm nằm trên ghế dựa lưng. Tàu ghé bến từng chặng, ồn ào người lên kẻ xuống, nhất là thương gia chở hàng hóa.
Công ty tư nhân đảm nhận đường thủy liên lạc từ Sài Gòn đi Bà Rịa - Vũng Tàu. Có tuyến đi Bến Hòa, ra Nhà Bè rồi ngược dòng Đồng Nai, hoặc đi Tây Ninh, vì thị xã Tây Ninh nằm ở ven sông Vàm Cỏ Đông. Mỗi tháng có một chuyến đi tận Nông Pênh theo, sông Tiền (Cửu Long) và sông hậu, ghé Mỹ Tho, Vĩnh Long, Sa Đéc, Châu Đốc. Công ty tàu thủy (gọi tàu Lục Tỉnh, tàu Nam Vang) thâu lợi to, nhằm chuyên chở thư từ công văn, nhân viên nhà nước và lính đi công vụ, với giá cao.
Lộ trình bấy giờ là vào rạch Bến Nghé, đến Chợ Lớn, xuống Cần Giuộc, hoặc ra biển, trở vào Mỹ Tho. Hành trình này giải thích tại sao phía Chợ Lớn đa số cầu thời xưa bắc qua rạch Bến Nghé đều đặt trên những mống thật cao có bậc thang cho người đi đường lên xuống. Nếu không có mống cao thì phải theo kỹ thuật “cầu quay”, dầm cầu có thể di động, nâng lên, hoặc xoay tròn, chừa khoảng trống cho chiếc tàu có ống khói khá cao chạy qua dễ đàng.
Bấy giờ, vì chưa dùng xe đạp, chưa có ô-tô nên hành khách đi bộ lên rồi xuống bực thang ở hai mống cầu, nhịp sống không quá nhanh như ngày nay. Thời xưa ấy cầu Nguyễn Tất Thành qua bến Nhà Rồng còn gọi cầu quay (theo nghĩa quay một phần tư vòng). Kề bên là Cầu Mống, nay còn ở đầu đường Pa-xtơ đặt trên bậc cao, với nhiều bậc thang. Công ty tàu thủy về sau mở thêm dịch vụ sửa chữa tàu thủy, thêm tuyến đi đường biển ra Vũng Tàu, Đà Nẵng Hải Phòng, Hương Cảng sau khi Trung Bộ và Bắc Bộ nước ta bị mất. Xưởng sửa chữa và đóng tàu này chỉ kém sở Ba Son, nay còn ở địa điểm xưa, gọi hãng Caric.
Đáng chú ý là những chuyến từ Nông Pênh (Nam Vang) khi trở về Sài Gòn chở lúa gạo, bò thịt để xuất khẩu qua Philippin. Đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho mở ra, với tham vọng không bao giờ thành đạt là nối lên tận Nông Pênh. Đoạn đường 70 ki-lô-mét này khánh thành năm 1883, gây sự ngạc nhiên cho nông dân hai bên đường .Đầu tàu hỏa sơn đen, phun khói vì chạy với nồi hơi nước, chụm than đá, kéo theo nhiều toa chở hành khách quả là con thú dữ, cứ gào thét, đòi ăn thịt người, có “cô hồn” như đồng bào bàn tán vào hồi xưa... xưa lắm rồi. Đường sắt này sau 1954 đã tháo gỡ vì thua lỗ.
Về di chuyển trong khu vực nhỏ, năm 1882 mở đường xe lửa từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, rồi Sài Gòn đi Bà Chiểu (Gia Định) đi tận Gò Vấp, Hóc Môn, Lái Thiêu; đầu máy chạy sức hơi nước, năm 1913, đổi ra chạy sức điện, nên gọi xe điện. Xe Ô tô đưa qua Sài Gòn hồi đầu thế kỷ, mấy chiếc đầu tiên lãnh thầu chở công văn đi Tây Ninh, đi Biên Hòa (1903).
Vườn nay là Tao Đàn thành lập năm 1900 trước là nơi hóng mát cho người Âu, lần hồi trở thành khu thể thao giải trí cho người Âu. Năm 1906, tại đây bày cuộc thi lái xe ô tô, bấy giờ đã du nhập thêm. Cho xe chạy quanh quẹo, dọc theo lộ trình dựng hình nộm của lính cảnh sát, người đàn bà đi chợ, người Ấn Độ, không đụng vào làm ngã là thắng điểm.
Máy bay có mặt vào năm 1910, do nhóm sĩ quan quân đội Pháp mua bộ phận rời, đem về Sài Gòn ráp lại rồi cho bay thử tại bãi của trường đua ngựa. Dân chúng kéo tới xem khá đông. Kiểu máy bay nhỏ, thiết bị cánh trên và cánh dưới, với những sợi dây chằng chịt. Người xem có thể thấy trọn thân hình người lái. Phải đốt khói để làm chuẩn chỗ đáp xuống, bay vòng quanh, khỏi Chợ Lớn là trở lại.
Năm 1888, kiểu xe kéo được du nhập từ Nhật đưa qua Sài Gòn, nhưng thô kệch so với kiểu xe bên Nhật. Bánh xe khá to, phía trước là hai cái gọng đành cho người phu nắm vào xe mà kéo, chạy bộ chậm chậm, đều bước, phí phạm sức khỏe, lắm khi chạymột mạch cả 10 ki-lô-mét. Gọi mỉa mai thân phận người phu là “ngựa người”, đa số phu xe sau khi kéo vài năm là vướng bịnh ho lao.
Với mức sản xuất gia tăng, cải tiến nhanh về kỹ thuật, bày ra xe ô tô đưa khách. Đường sá mở rộng hơn. Đến khoảng năm 1914, bến nhà Mỹ Thuận qua sông Tiền thành hình, qua các tỉnh phía Tây, đến Cà Mau. Thoạt tiên vì giá vé quá cao, lại sợ tai nạn nên ít người đi; đường thủy vẫn là chính yếu, người đi tàu thủy có thể mang theo nhiều hành lý và hàng hóa hơn.
Đáng lưu ý: Kiểu xích-lô đạp ngày nay là sáng kiến lớn, có từ nửa thế kỷ, do người Pháp là Cu-pô bày ra, lần hồi cải tiến vài chi tiết nhỏ. Người đạp được khỏe khoắn hơn, nhưng điều bất lợi là xe không vững cho lắm khi quẹo nhanh, và khi xảy ra bất trắc, hành khách ngồi phía trước lại hứng chịu hậu quả. Nay thỉnh thoảng còn thấy vài chiếc xe thổ mộ chẳng ai giải thích rõ vì sao lại đặt tên này. Một ngựa kéo, khỏe mạnh, - vì lai giống ngựa nước ngoài bị xuống cấp sau khi đua nhiều độ ở trường đua Phú Thọ. Gọng xe này nhếch lên cao phía trước, phía sau thì đổ tuột xuống, ấy thế mà hành khách chẳng ai bị té. Mô hình này xuất hiện khoảng năm 1920, lần hồi dành chở rau cải vào nội thành, con ngựa có thể trở chứng, bất trị, lại phóng uế.
Sân bay Tân Sơn Nhất thành hình vào khoảng 1930, lần hồi hiện đại hóa, trở thành sân bay quốc tế thuận lợi ở Đông Nam Á.
Bệnh viện đầu tiên quen gọi Đồn Đất vì xây cất trên một đồn canh nhỏ, thời Tụ Đức (nay là bệnh viện Nhi Đồng 2) khá xưa, từ năm 1870, dành cho hải quân Pháp rồi dành cho quân đội Pháp. Trước năm 1954, muốn vào bệnh viện quí tộc này phải trải qua nhiều sự giới thiệu vì là ưu quyền giành cho người khá giả.
Bệnh viện Chợ Quán khá xưa, là trạm cứu thương từ năm 1861, khi Pháp mở cuộc tấn công chiến lũy Chí Hòa. Sau nâng cấp, cũng là bệnh xá dành cho tù nhân chính trị.
Bệnh viện Bình Dân, ở góc quảng trường lớn chợ Bến Thành, xây cất từ năm 1913 rồi nâng cấp, nhằm phục vụ cấp cứu những người ở khu vực chợ. Trụ sở của Sở y tế ngày nay, góc Cách Mạng Tháng Tám và Nguyễn Thị Minh Khai khởi công năm 1926, lần hồi nâng cấp. Còn một trạm xá xưa thành hình từ năm 1886 (nay là bệnh viên da liễu xây trên vùng đất thuở ấy còn là ngoại thành, do tư nhân người Pháp là Colombier hiến cho mặt bằng. Người Pháp này đã du nhập vài loại rau xanh như cải xà-lách, cà chua lần đầu tiên vào Sài Gòn, thêm hoa hồng. Việc trồng tỉa không đem huê lợi đáng kể; ông ta mất ở Sài Gòn.
Thoạt tiên người Pháp lập ra trường học nhằm dạy con cái của công chức và của quân đội viễn chinh. Trường học này đặt tên là Bá Đa Lộc người làm cố vấn cho Nguyễn Ánh khi xin cầu viện Pháp.
Đây là trường học xưa nhất, lập năm 1862, sau trận đánh Chí Hòa một năm. Bấy giờ, người Việt thân Pháp có thể gởi con em đến học Pháp văn. Sau đó, trường này chuyên dạy con gái, cũng dành cho người. Pháp Năm 1927 nâng cấp thêm tầng, trở thành trường sư phạm, dào tạo giáo viên cấp I cho các tỉnh, dành cho người Việt.
Trường nay Lê Quí Đôn mở năm 1875 nhằm dạy cấp 2 cho học sinh Pháp và con cái người Việt giàu sang. Năm 1916 - 1918, mở trường nữ Calmette, nay là Marie Curie dành cho giới nữ, cấp 2, dành ưu tiên cho người Pháp. Cũng thời gian ấy, xây cất xong trường nữ dànhcho người Việt: trường Gia Long nay Nguyễn Thị Minh Khai. Năm 1927, thêm trường trung học Petrus Ký dành cho con trai người Việt. Về cơ khí, có trường Máy (năm 1906) đường Nguyễn Thị Minh Khai., hai năm sau (1908), dời đến đường Huỳnh Thúc Kháng, nay hãy còn.
Về giải trí, người Pháp thích ăn uống ở tửu quán, ngồi đến nửa đêm mà đọc báo, thụt bành bi da, đánh bài. Vì thời tiết nóng nực, lại nhớ quê xứ, họ thích dạo phố lúc rảnh rang. Giới sang trọng mướn phòng trọ ở khách sạn Continental nay hãy còn (thành hình từ 1885). Mỗi chiều, “ông Tây bà Đầm” rủ nhau dạo chơi mé sông Sài Gòn để hóng mát gần cột cờ Thủ Ngữ, đối diện bến Nhà Rồng . Họ uống rượu, tán dóc, bàn chuyện làm ăn, bấy giờ người Việt thuộc giới trung lưu khó đến gần. Ngày chủ nhật, người Pháp dạo chơi trên xe song mã ra ngoại ô từ Sài Gòn qua cầu Thị Nghè, đến Hàng Xanh phía Gia Định (đường Bạch Đằng) qua lăng Cha Cả theo đường Phan Đăng Lưu rồi Hoàng Văn Thụ, đổ xuống Lý Thường Kiệt, trở về Sài Gòn. Dọc đường, họ tha hồ ngắm cảnh đồng quê, với ruộng rẫy. Giới khá giả hơn thì lên Dĩ An, Thủ Đức để săn nai, heo rừng, thỉnh thoảng săn được cọp.
Vùng nội thành bấy giờ nhỏ bé, quanh quẩn vùng Đồng Khởi. nhà thờ Đức Bà, như một xã, viên xã trưởng người Pháp, dân gian quen gọi xã Tây.
Vùng phụ cận như Tân Định Cầu Bông, Cầu Ông Lãnh, đường Phạm Ngũ Lão ngày nay lên chợ Thái Bình, đường Ngô Gia Tự, vùng Chợ Đũi là làng, vì vậy vẫn còn giữ đình làng. Năm 1885, dân số thêm đông, đặt ra tỉnh Gia Định, lấy chợ Bà Chiểu ngày nay làm tỉnh lỵ. Phía Chợ Lớn, từ đường Nguyễn Văn Cừ trở ra ngoại thành, đặt tỉnh. Chợ Lớn với cơ ngơi nào tòa án, khám đường, bệnh viện, sở thuế, cảnh sát như một tỉnh. Dinh tỉnh trưởng của người Pháp vẫn gọi tòa bố, hiểu là tòa nhà lớn dành cho quan bố chánh. Thời xưa, bố chánh tương đương với chủ tịch. Tỉnh Chợ Lớn trở thành quan trọng với người Hoa chuyên tồn trữ hàng hóa, thêm khu vực nhà máy xay lúa, tiểu thủ công nghệ.
Rừng miền Đông được người Pháp lưu ý, họ tìm hầm mỏ, nhưng không gặp gì cả. Miền Đông với rừng già từng là nơi tập hợp của người dân tộc, thích sống với phong tục: thờ thần núi, thần sông, khi tế lễ thì đánh chiêng, đâm con trâu hiến cho thần thánh. Họ dùng khí giới thô sơ, nhưng nguy hiểm, những mũi tên tẩm thuốc độc. Sau nhiều phen thám hiểm, người Pháp không bỏ cơ hội, để xin ưu tiên trưng khẩn, thoạt tiên trồng thử cây dừa và mía là loại câycông nghiệp, nhưng thất bại. Bấy giờ, ở Thảo Cầm Viên Sài Gòn đang thử nghiệm cây cà phê, cây cao su. Ngành sản xuất ô-tô ở châu Âu cần vỏ ruột (săm lốp), người Anh đã thử nghiệm trồng cao su ở Mã Lai, đạt kết quả khả quan, bán với giá cao. Cây này chỉ sống khỏe ở vùng nhiệt đới.
Thoạt viên, chủ đồn điền cao su tuyển mộ người dân tộc làm phu vì họ dễ quen với khí hậu khắc nghiệt, môi trường của bệnh sốt rét. Hàng vạn mẫu rừng bị đốt, nhất là rừng tre, lửa cháy ngày đêm, suốt tháng đỏ rực góc trời. Heo rừng, nai, cọp chạy tán loạn. Rồi mộ phu cao su, từ đồng bằng sông Hồng đến, cày theo lối thủ công với sức trâu bò, ăn uống kham khổ, lại bị đánh đập, thuốc men không đủ, lắm người bị chết vì sốt rét. Mỗi đồn điền tổ chức sẵn một bộ phận chuyên đóng áo quan, cứ đôi ba ngày là có người chết. Lần hồi, giá mủ cao su lên cao, nhiều đồn điền mọc lên, chủ nhân được phép tổ chức dân phu thành đơn vị làng. xã. Sau đệ nhất thế chiến (1914 - 1918), đồn điền mở rộng qui mô, giới chủ nhân kêu gọi cổ phần, trụ sở chính bên Pháp, đặt đại diện ở Sài Gòn. Xem cơ ngơi nay là Cung thiếu nhi Thành phố, (đường Nam Kỳ Khởi nghĩa) ta thấy mức giàu có của giới chủ nhân thời ấy.
Phía lục tỉnh (đồng bằng sông Cửu Long đến Cà Mau), từ sau nằm 1900, đào thêm kinh giao thông và thủy lợi, mức sản xuất lúa gạo tăng vọt, đưa lên Sài Gòn theo đường thủy; có lúc Nam Bộ đứng hàng nhất nhì toàn thế giới .Lý do mặc dầu nói chung mỗi năm làm một vụ, gạo không tốt nhưng dân số ít, vì vậy tiêu thụ tại chỗ cũng ít.. Gạo của đồng bằng bán lên miền Nam Trung Quốc, qua Nhật, tận châu Phi.
Người Pháp ở Đông Dương đã dám vay nợ của chánh quốc để đào kinh, sau đó lấy thuế điền (thuế đất) thuế xuất khẩu lúa gạo trả lại không khó cho lắm. Các tỉnh mới thành lập sau khi Pháp chiếm nuớc ta, trước kia 6 tỉnh (gọi Lục Tỉnh) Pháp chia làm 20 tỉnh với 20 thị xã, thêm thị xã Long Xuyên, Long An, Bạc Liêu, Gò Công...Riêng về thị xã Cần Thơ, trước kia là chợ nhỏ ở ngã ba sông đã nhanh chóng trở thành đầu mối (thủ đô miền Tây của Nam Bộ. Những hãng buôn lớn ở Sài Gòn đều tổ chức chi nhánh ở Cần Thơ, hoặc các công ty: Công ty rượu bia, Công ty nhiệt điện, Đông Dương ngân hàng... Nhờ đó Sài Gòn thêm phồn thịnh vì Sài Gòn lần hồi đảm nhận tất cả dịch vụ quan trọng của các tỉnh phía đồng bằng.
Các hãng xe khách, tàu thủy, công ty xăng dầu, nhà máy xay xát ở tỉnh phần lớn đều phụ thuộc vào Sài Gòn. Thêm những chành lúa (kho dự trữ). Lúa đưa về Chợ lớn, ra cảng Sài Gòn. Học sinh cấp 3 muốn thi bằng tú tài phải lên Sài Gòn học. Sài Gòn lại là nơi có nhiều trường tư thục với điều kiện chiêu sinh dễ dãi dành cho con nhà khá giả của các tỉnh nam bộ. Sài Gòn có nhà hát đáng tin cậy về tuồng cải lương, có nhiều nhật báo, tuần báo cung cấp lương thông tin cần thiết.
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  friend on Fri Mar 22, 2013 11:08 am

Sài Gòn là vùng đát thân thương của cả nước. Người Sài Gòn tồn tại siêng năng linh động, không bảo thủ. Có thể nói là sức sống của dân tộc Việt đã hội tụ về đây với những nét rõ rệt.
Với Hà Nội là thủ đô, Sài Gòn đã là nơi hội yụ của người Việt từ đời các chúa Nguyễn. Ta nhớ chúa Nguyễn mang nguồn gốc Thanh Hóa, que hương của trống đồng Đông Sơn. Tổ tiên chúa Nguyễn từng làm quan ở Hà Nội. Nhà Lê với Lê Lợi là người Thanh Hóa, lập nghiệp nhờ sĩ phu của đồng bằng sông Hồng và đóng đô ở Hà Nội. Từ đời nhà Lê đã chiêu mộ thêm lưu dân vào phía nam trung bộ, phần lớn là nông dân nghèo túng, hoặc bị tù đày vì nhiều lý do. Bị đày vì án hình sự như trộm cắp, còn nhiều người bị đày vì chống đối bọn cường hào ác bá phong kiến.
Khi vào Nam Bộ để mở nước và dựng nước, đợt đầu vẫn là những nông dân nghèo từ Ngũ Quảng tức là Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đúc (Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam) Quảng Ngãi .. Chúa Nguyễn và vua nhà Nguyễn gốc Thanh Hóa nên đặt tin cậy trong buổi đầu vào người đồng quê quán; những dòng họ như Nguyễn Hữu, Nguyễn Cửu, Trương Phước, Tống Phước đều làm quan to ở Nam Bộ, họ phổ biến nếp sống văn hóa của đồng bằng sông Mã (Thanh Hóa). Giới điền chủ mô phỏng phong tục của quan, nông dân mô phong phong tục của điền chủ; thời phóng kiến là vậy.
Dòng Nguyễn Hữu là Nguyễn Hữu Cảnh (Nguyễn Hữu Kính) được người Nam Bộ sùng bái nhất, từ xưa và lấy chức vụ của ông mà đặt tên cho con rạch quan trọng, nối sông Tiền qua sông Hậu.
Rạch Ông Chưởng là nơi ông cho quân sĩ tạm trú (quân An Giang). Nay còn nhiều đình miếu dọc theo bờ rạch ấy. Tại thị xã Châu Đốc, tại cù lao Phố Biên Hòa), ông được cúng tế trang nghiêm như vị thượng đẳng thần. Đồng bào Nam Bộ vì kỵ húy,. gọi trại là kiểng, thay vì cảnh (cây cảnh thì gọi cây kiểng).
Dòng họ Tống Phước, quê Thath Hóa một thời lẫy lừng ở Vĩnh Long, làm quan cai trị.
Dòng họ Nguyễn Cửu, như Nguyễn Cửu Vân đã lập chùa Hộ Quốc (Biên Hòa), đào kinh Châu Phê ở Long An, lại đào kinh Bảo Định nối sông Tiền từ Mỹ Tho qua Vàm Cỏ Tây của Long Ai. Sài Gòn có rạch Thị Nghè, bà là con gái của Nguyễn Cửu Vân, tên thật Nguyễn Thị Khánh.
Đào Duy Từ người Thanh Hóa, được truyền tụng như dày công phổ biến và cải cách bộ môn hát bội.
Đình thành hoàng ở Nam Bộ là hình thức cụ thể, linh động của sự thống nhất đất nước từ Bắc chí Nam. Nghi thức cúng tế giống nhau về nội dung: dâng 3 tuần rượu cho thần thánh; thần thánh đại diện cho Trời Đất. Con người phải giữ lòng nhân ái thương người đồng loại, cho phù hợp với đạo Trời Đất.
Trong đời sống hằng ngày, vì là dân tứ xứ, khi đến Sài Gòn - Chợ Lớn đa số đều là nghèo nên ái nấy tỏ thái độ vui vẻ hòa nhã khi gặp nhau, dầu từ đâu đến, thuộc tôn giáo nào cũng xem như bà con, bạn bè. Sống được nhờ bạn bè. Lúc nguy nan, nhờ bè bạn. Giúp bạn bè trong đời sống hàng ngày là bổn phận, không chờ đền ơn. Vì bản thân từng người, ai cũng đã gặp những lúc nguy nan, tồn tại được là nhờ bạn bè lắm khi xa lạ, tình cờ quen biết sơ sài lần đầu.
Không kỳ thị không tò mò về nguồn gốc gia đình, dòng họ. Gặp người đang giàu nhanh không nể trọng, nịnh bợ vì người ấy nhất định đã là nghèo rồi gặp cơ hội; nhờ cần cù mà tiến lên khá giả. Gặp kẻ sa cơ, đạp xích lô ăn mày, thất nghiệp cũng chẳng dám khinh vì họ nghèo, chẳng qua là chưa gặp cơ hội, hoặc đã gặp cơ hội nhưng chưa biết khai thác. Chỉ vì thích sống tự do nên bỏ qua dịp có thể làm giàu.
Bởi vậy, đa số thích sống bình dân, lắm khi dư tiền dư bạc nhưng quen ăn uống ngoài lề đường như thuở nào mình còn nghèo . Áo quần xuề xòa, có tiền trong túi là vui, tự tin. Chỉ ăn mặc chỉnh tề khi cần xã giao về hình thức.
Đã không kỳ thị tôn giáo thì cũng không kỳ thị dân tộc. Người Ấn theo Hồi giáo cứ ăn thịt bò, thích ca ri dê thì ta ăn ca ri để cùng thông cảm. Và quả thật món ca ri khá hấp dẫn. Ăn ca ri Ấn với bánh mì của Tây. Người Ấn qua Sài Gòn hồi những năm cuối thế kỷ 19, sau khi Pháp chiếm Nam Bộ. Bên Ấn Độ, từ trước đó Pháp chiếm vài thành phố làm nhượng địa, sung túc nhất là Bom bay. Họ qua Sài Gòn, Chợ Lớn bán tơ lụa, vải, dấu ấn còn lại là cầu Chà Và ở Chợ Lớn, sát mé sông bấy giờ trưng bày nhiều sạp vải của người Ấn. Lần hồi, nhiều người Ấn nghèo nàn, đến mở quán ăn, làm nghề nuôi bò sữa khá thành công. Họ cũng bán hàng rong, món đặc sản là đậu rang bán rế, nay không còn. Nhiều người Ấn qua Sài Gòn làm nghề cho vay bạc, lập những hiệu tín dụng nhỏ hợp pháp, cho vay với điều kiện dễ dàng, miễn là có đồng lương ổn định hoặc tài sản thế chấp. Họ giữ bí mật nhưng khi thân chủ không đủ khả năng chi trả họ tỏ thái độ cứng rắn. Họ còn đấu thầu bến đò khai khẩn đất ruộng. Một số người theo Hồi giáo (kiêng thịt heo) lập thánh đường riêng với bốn trụ cột khá cao.
Người theo Ấn giáo lập những cơ ngơi mà ta gọi là "chùa", được nhiều người biết đến là chùa Bà Đen, nữ thần Ấn Độ được đồng hóa với Bà Đen ở điện Bà trên ngọn núi cao phía Tây Ninh. Chùa Bà Đen này hãy còn sinh hoạt, tại đường Trương Định, ngay trung tâm Sài Gòn. Người Ả rập ở những nhượng địa xưa của Pháp như A đen, Djibouti qua Sài Gòn sống với nghề gác dan, giữ kho hàng, được tin cậy. Ấn giáo, Hồi giáo tuy không thu hút được tín đồ người Việt nhưng người Việt cũng đến cầu phước.
Người Hoa đến Chợ Lớn để làm ăn, sản xuất những mặt hàng tiểu công nghệ, chế biến, từ tương, chao, nến, nhang, quạt giấy đến lạp xưởng, heo quay, nhất là khai thác quán cà phê với bánh bao, xiếu mại khó quên. Phần lớn họ qua Sài Gòn Chợ Lớn khi người Pháp mở cảng với kinh tế thị trường.
Họ ít khi đến với đàn bà, phần đông cưới vợ người Việt. Việc khai thác lúa gạo ở phía đồng bằng tạo cho người Hoa nhiều cơ hội làm ăn. Chính họ cung ứng cho dân khẩn hoang những nhu yếu phẩm từ cây đinh, cây kim, sợi chỉ, đường, đậu, thuốc lá, thuốc Đông y. Nhiều tay mại bản ở Chợ Lớn được các ngân hàng từ Singapo và Hương Cảng (thuộc Anh quốc) tài trợ về vốn. họ thao túng giá thu mua lúa gạo.
Người Hoa lai Việt sau đôi ba đời trở thành người Việt, phần lớn quên hẳn tiếng Hoa. Bởi vậy sự phân biệt không còn nữa.
Nói chung, người Hoa siêng năng chịu cực, làm việc quên mình, quen sống chật hẹp trong gian buồng nhỏ, ăn sáng ăn trưa ngoài đường, khi giao ước làm ăn, lấy chữ tín làm đầu, không cần giấy tờ.
Họ đi chùa miếu của người Việt, cầu xin sự phò trợ của thần thánh địa phương, cũng như người Việt thường đi chùa người Hoa vì thần thánh nào cũng là thần thánh. Phải chăng vì quen giao thiệp với người Hoa mà khá đông người Viết cũng suốt ngày tới lui ngoài đường, bàn bạc chuyện làm ăn ở quán, ăn quà vặt. Người lớn tuổi khá giá cũng thích ăn ngoài đường cho vui đrường, vui phố.
Sống ở bến cảng giao lưu với Đông Nam Á và châu Âu, người Sài Gòn biết tận dụng ưu thế. Làm kinh tế với dịch vụ lớn nhỏ, chạy mối hàng hóa đưa từ chỗ này sang chỗ kia, hoặc giao thiệp với người mua bán sỉ, lẻ ở các tỉnh. Muốn làm ăn, cần lượng thông tin sốt dẻo,vì vậy siêng đọc báo. Hình thức văn nghệ “nghe, nhìn” được ưa thích vì trực tiếp gây cảm giác, như ca vọng cổ, xem hát bội rồi hát cải lương từ những năm sau 1930. Bóng đá, đua xe đạp được hâm mộ. Thời xưa, số người đọc sách văn học hoặc làm thơ còn ít.
Sống ở bến cảng, luôn luôn tiếp xúc với hàng ngoại nhập, ai nấy thích dùng thử cho vui và so sánh, lắm khi mua với giả rẻ mạt, vì là hàng lậu thuế. Trong nhiều trường hợp, đây là sự lãng phí, là thời trang lẩm cẩm; sớm nở tối tàn. Mới và lạ chưa chắc tốt và có chất lượng.
*
Dân số Sài Gòn và Chợ Lớn tăng nhanh đến tốc độ chóng mặt. Cách đây nữa thế kỷ (năm 1941) được nửa triệu người, nay thì gấp 10 lần. Không phải vì người Sài Gòn sanh đẻ nhiều, nhưng phần lớn là do hai cuộc chiến tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, suốt 30 năm dai dẳng.
Để tránh tai nạn chiến tranh như bom đạn, giặc bắn giết bừa bãi, sinh kế không ổn, nhất là việc cày cấy ruộng nương, nhiều người từ phía đồng bằng sông Cửu Long, từ miền nam Trung Bộ kéo đến Sài Gòn để sinh sống. Nhà cửa bấy giờ còn sơ sài, vùng gọi là ngoại ô trước kia để trồng rau cải lần hồi trở thành đất gia cư.
Với vị trí địa lý của Sài Gòn lần hồi được “Hòn ngọc Viễn Đông” việc giao thông càng thuận lợi với các nước Đông Nam châu Á. Sân bay Tân Sơn Nhất được mở rộng, xứng đáng sân bay quốc tế. Cảng Sài Gòn thêm nhà kho. Nhà máy nhiệt điện luôn được tăng cường cũng như việc cấp nước sạch.
Ngày nay không còn như hồi thời thực dân Pháp chiếm đóng “hơn 80 năm đô hộ”.Về khoa học kỹ thuật, Tây phương đã có những bước tiến nhảy vọt. Vấn đề hàng tiêu dùng được đặt ra.
Trước cách mạng tháng Tám, xe đạp thuộc vào hàng xa xỉ phẩm dành riêng cho công chức khá giả.
Đài thâu thanh cũng trong thời gian xa xưa ấy, mỗi tỉnh có dăm ba người sắm được. Vóc dáng mẫu mã đẹp nhất buổi ấy nay nhìn lại khá buồn cười: to hơn cái máy truyền hình ngày nay. Muốn bắt tin, phải đặt trên nóc nhà hai cây cột, giữa hai cột dăng sợi dây, từ sợi dây ấy nối xuống nhà gắn vào đài. Mỗi tỉnh thuở ấy gắn mươi cái điện thoại giành cho tư nhân mà thôi.
Rượu,bia giành cho giới sang trọng. Nhà khá giả sắm đồng hồ treo tường, với quả lắc đong đưa. Người Pháp và điền chủ lớn sắm đồng hồ đẹp, hình tròn, gọi “đồng hồ quả quít”, có khoen nối với sợi dây, gắn vào túi, khi xem thì móc ra xem, rồi cất giấu. Nay những đồng hồ ấy thuộc vàp loại đồ cổ đắt tiền.
Từ tỉnh phía đồng bằng thời xưa ấy mỗi ngày xe khách chạy hai ba chuyến là nhiều. Đau ốm, dùng thuốc dân tộc hoặc thuốc Đông y do người Hoa bào chế sẵn. Phía đồng bằng mỗi tỉnh mỗi năm chừng đôi ba trăm gia đình thuộc hàng giàu sang đã tổ chức cho cha mẹ lớn tuổi lên Sài Gòn tham quan Sở thú (nay Thảo Cầm Viện) xem cọp, voi.
Dư tiền, thì tìm bác sĩ rọi X - quang, lấy làm hãnh diện cho cuộc đời, ngỡ rằng rọi X - quang khám phổi là giết được vi trùng đủ loại.
Nhiều người ở nông thôn khá giả mà ngần ngại không dám ra tỉnh lỵ, sợ thiên hạ chê là quê mùa. Ở vùng sâu, nhiều người chẳng thấy chiếc ô tô lần nào vì đường bộ chưa có.
Thời Pháp rồi thời Mỹ, Tây phương đưa qua nhiều mặt hàng tiêu dùng với giá rẻ, gọi là viện trợ nhưng kỳ thật là mua chuộc khéo léo dân ta.
Người tuổi đã 60 còn nhớ lại hình ảnh của mình, hồi cắp sách đến trường cấp I, buổi xa xưa ấy. Học trò phải hớt tóc thật sát đi chân đất, mặc quần áo bà ba, mỗi sáng đi bộ hàng đôi ba ki-lô-mét đến trường, áo mưa không có. Mang cái bình mực tím, trong ngón tay, với sợi dâylòng thòng buộc vào cổ bình mực. Trong cái cặp thô sơ vài quyển sách, đôi ba cuốn tập. Bút chì giá đắt, chuốt mãi đến khi còn chừng 2 xăng ti mét thì tra vào một ống trúc ngắn để có thể cầm trong tay. Sáng đi học, nhà trung lưu, chỉ được ăn nắm xôi nhỏ, con nhà nghèo ăn cơm nguội. Nhưng học trò rất nể nang thầy, gặp thầy cô dạy bất cứ lớp nào, học trò cũng cúi đầu chào nghiêm chỉnh. Bấy giờ, chưa có tơ bóng, quần áo dệt với chỉ bông vải nên dễ rách; mặc áo vá ba bốn lỗ là thường, nhưng giữ "lành cho sạch, rách cho thơm".
Sự trưởng thành của Sài Gòn diễn ra trong thời gian ngắn nhưng sự kiện dồn dập, ta gọi là có “bề dày lịch sử”.
Chợ Bến Thành xưa từ mé sông dời lên đường Nguyễn Huệ, rồi đến quảng trường ngày nay dường như đã nhỏ bé.
Con rạch Bến Nghé cổ kính nối từ rạch Cát phía Chợ Lớn ra cảng từ 70 năm qua chỉ còn là dòng nước vô dụng, thay vào đó là Kinh Tẻ và Kinh Đôi nối liền nhau ngay thẳng và rông rãi để đưa lúa gạo ra cảng.
Bến xe khách (Xa Cảng) nối liền với phía đồng bằng lắm phen dời vị trí để mở rộng. Hồi năm 1914 ở bên hông chợ Bến Thành, lại dời qua đường Phạm Ngũ Lão (bên hông rạp Diên Hồng) rồi đến góc Nguyễn Cư Trinh – Trần Hưng Đạo. Lại dời đến đường Lê Hồng Phong trước khi đến phía Phú Lâm ngày nay, dời tất cả bốn lần.
Con đường ăn qua trước mặt Hội trường Thống Nhất được lần hồi thay tên đến lần thứ bảy. Thoạt tiên là đường số 26, rồi đường Hoàng Hậu (bấy giờ còn chế độ quân chủ), là vơ của Hoàng đế Nã Phá Luân đệ tam, lúc Pháp đánh Nam kỳ. Năm 1870, Pháp thua Đức, lập chế độ Cộng Hòa bèn lấy tên vị thống chế Mác-Ma-Hôn (Mac Mahon) dân gian gọi đùa là “Mặt má hồng”. Sau năm 1945, thực dân tái chiếm Sài Gòn, đặt tên đường tướng Đờ-Gôn (De Gaulle) đã dày công giải phóng nước Pháp. Rồi đặt tên tướng Đờ Lát (De Lattre) đã mất sau khi chỉ huy quân đội viễn chinh đánh nước ta.Thời thực dân Mỹ, đặt tên đường Công Lý. Sau ngàygiải phóng và thống nhất năm 1975, ta đặt tên Cách mạng Tháng Tám.
Nay tình hình đã khác, ước mong các cháu thế hệ ngày nay cố gắng học hành, không đua đòi của cải vật chất thì nhất định sẽ đạt được những gì mà các cháu mơ ước. Sống với lòng nhân ái, cần cù, thương cha mẹ, quí mến thầy bạn. Chú trọng học khoa học kỹ thuật, đó là sự đòi hỏi cấp bách của đất nước đối với thế hệ ngày nay và mai sau.
Đó cũng là ước mơ lớn của những người từng chịu cực khổ ở Sài Gòn, từ bao thế hệ trước.

HẾT
avatar
friend
Chạy bàn

Tổng số bài gửi : 243
Join date : 08/06/2012

Xem lý lịch thành viên

Về Đầu Trang Go down

Re: SÀI GÒN XƯA - Sơn Nam

Bài gửi  Sponsored content


Sponsored content


Về Đầu Trang Go down

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang


 
Permissions in this forum:
Bạn không có quyền trả lời bài viết